Friday, May 8, 2015

Điện Phụng Tiên

Điện Phụng Tiên (chữ Hán 奉先殿, điện nơi thờ phụng người trước) là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Ngôi miếu dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế.

Lịch sử

Thời gian xây dựng của điện là không rõ, chỉ biết là nó đã được xây dựng khi vua Gia Long vẫn còn sống. Khi đó nó là một ngôi điện bằng gỗ có tên là Hoàng Nhân, vị trí gần cửa Hiển Nhân (ngày nay là Đại học Nghệ thuật Huế). Khi Gia Long mất, quan tài của ông đã được quàn tại đây 3 tháng trước khi được an táng ở lăng Gia Long. Điện Hoàng Nhân là nơi thờ cúng Gia Long kể từ năm 1820.

Năm 1829, vua Minh Mạng cho đổi tên điện Hoàng Nhân thành điện Phụng Tiên. Và đến năm 1837, ông cho dời điện từ vị trí gần cửa Hiển Nhân đến vị trí ngày nay, gần cửa Chương Đức.

Mặc dù về sau, triều đình nhà Nguyễn có xây Thế Miếu với cùng một chức năng là thờ cúng Gia Long và các vị vua kế vị nhưng điện Phụng Tiên vẫn được duy trì để thờ các vua ấy, vì một lý do đặc biệt: theo quy định của Triều đình, Thế Miếu là "công miếu", các cuộc tế lễ ở đây đều là những buổi lễ có tính chất quốc gia với sự hiện diện của vua, hoàng thân và đình thần; tuyệt đối cấm nữ giới cho dù họ có là người trong Hoàng gia, nhưng họ có thể tới điện Phụng Tiên để thực hiện việc thờ tự.

Điện cũng là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhà Nguyễn, nhưng đến tháng 2 năm 1947, toàn bộ đã bị thất thoát cũng như đốt cháy theo điện. Hiện giờ chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.
Kiến trúc


Nội thất điện Phụng Thiên vào năm 1930

Điện Phụng tiên là một tòa nhà kép to lớn, to ngang Thế Miếu nhưng có thêm mái lưa ở phía trước. Phần chính doanh có 9 gian 2 chái, mỗi gian thờ một vua; phần tiền doanh có 11 gian. Mái điện được lợp ngói ống hoàng lưu ly cùng với ngói câu đầu trích thủy; phần nền thì được lát bằng gạch Bát Tràng tráng men. Sân trước điện khá rộng cũng được lát bằng gạch Bát Tràng. Sát hiên trước có một hàng chậu sứ trồng cây cảnh được đặt trên các đôn bằng đá chạm. Cuối sân có một bể cạn lớn làm bằng đá, bên trong có một hòn non bộ, xây bằng đá tựa vào một bức bình phong giăng dài phía sau cửa tam quan. Ở giữa mặt trước khuôn viên có vòng thành bao quanh.


Nơi điện Phụng Tiên ngày xưa tọa lạc
Hoạt động

Khi còn hoạt động với chức năng thờ tự của mình, điện Phụng Tiên là một đền thờ nguy nga lộng lẫy với rất nhiều đồ tự khi mà khi sinh thời các vua Nguyễn đã dùng. Một người Pháp tên Robert R. de la Susse đã gọi điện Phụng Tiên là một bảo tàng ở Hoàng cung Huế, qua lời mô tả của Susse, năm 1913 điện trông như một bảo tàng với việc năm 1911 hầu hết các bảo vật của các Vua và Hoàng hậu đều được thống kê và đưa vào tủ kính để ở đầu điện. Đồ được đặt trong tủ có rất nhiều loại: các khẩu súng hỏa mai nguyên do Pháp chế tạo của vua Tự Đức, các đồ đồng do người Việt đúc ở thời Minh Mạng, các loại đồ đồng tráng men, bộ sưu tập tiền đồng, các bảo vật của các đời vua và các chậu lung với cây cỏ, canh san hô được làm bằng vàng và ngọc, cùng với các đồ dùng của vua Tự Đức.. Trong số đó bảo vật đặc biệt nhất là hai bộ đồ thờ "tam sự" bằng ngọc bích, hai đĩa lớn đường kính 40cm; hai bức trấn phong bằng ngọc thạch nguyên bản. Ngoài ra điện còn lưu trữ các bảo ấn, các kim sách, vương miện, đồ uống trà làm bằng vàng nguyên chất.

Về việc chăm sóc hương khói, như trong phần lịch sử có nói về sự phân biệt nam nữ trong thờ cúng ở Điện Phụng Tiên và Thế Miếu . Điện Phụng Tiên do "các cô phụng trực", với đa số là thành viên của Hoàng tộc góa bụa hoặc không lấy chồng ăn ở trong các ngôi nhà phụ trong khuôn viện điện cho đến trọng đời, đảm nhiệm (còn Thế Miếu là do Ty Từ Tế phụ trách).

Wednesday, May 6, 2015

'Độc đáo' cảnh quan trên đỉnh Bạch Mã

139 biệt thự nghỉ mát được người Pháp xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ 20 để nghỉ mát tọa lạc trên độ cao từ 1.000 đến 1.400m tại Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) đến nay cái còn cái mất song vẫn mang lại nét cổ kính, độc đáo cho cảnh quan nơi này.

Theo tài liệu ghi lại, sở dĩ có việc lập ra quần thể kiến trúc này vì người Pháp muốn dùng nơi dây làm nơi nghỉ mát. Vườn Quốc gia Bạch Mã thuộc địa phận 2 huyện, huyện Phú Lộc và huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế 60km về phía Nam. Đây là nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và khí hậu rất trong lành.

Ở Bạch Mã lúc nào nhiệt độ cũng mát lạnh hơn các vùng dưới thấp từ 8 đến 10 độ. Khí hậu ở đây gần giống Ðà Lạt, Sa Pa, Tam Ðảo, nhưng do gần biển nên nhiệt độ mùa đông không bao giờ xuống dưới 4ºC và nhiệt độ cao nhất vào mùa hè ít khi vượt quá 26ºC. Khí hậu của Bạch Mã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những vùng khí hậu dễ chịu nhất của những nơi nghỉ trên vùng núi Đông Dương.

Không những có khí hậu dễ chịu, ở Bạch Mã còn có cảnh quan vô cùng đẹp với khung trời lồng lộng, những dãy núi trùng điệp, đỉnh núi nhấp nhô bắt mắt tới tận đầm Cầu Hai, cửa Tư Hiền, vụng Chân Mây sát bờ biển Ðông.

Vườn Quốc gia Bạch Mã còn giữ được hầu như nguyên vẹn những thảm thực vật phong phú và những cánh rừng nguyên sinh bát ngát...

Vào những năm từ 1916 đến 1925, Bạch Mã chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, các kế hoạch về bảo tồn và thành lập vườn quốc gia đã làm mọi người chú ý đến vùng núi này. Một kỹ sư người pháp là Girard đã tổ chức khai phá vùng núi này vào năm 1932 nhằm phát triển du lịch của Bạch Mã. Điều này dẫn đến sự tăng vọt của số lượng khu nghỉ mát ở vùng này bao gồm các biệt thự, khách sản và kéo theo đó là phát triển về giao thông công cộng.

Tuy nhiên, nhưng công trình này chủ yếu chỉ để phục vụ giới có tiền thời đó và các quan chức của Pháp.

Sau khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam kết thúc vào năm 1954, mọi người quên dần đi sự tồn tại của Bạch Mã khiến các kiến trúc xây dựng nơi đây bị bào mòn dần bởi thời gian. Phải đến năm 1960, Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập lại nhưng chiến tranh tiếp tục kéo dài liên miên khiến nó lại rơi vào quên lãng. Khu Bạch Mã được dùng làm căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trong thời gian này.

Sau khi hòa bình lập lại, Chính phủ đã có nhiều dự án phát triển trồng trọt tại khu này nhưng vẫn thất bại do điều kiện thời tiết. Với sự thành lập chính thức Vườn quốc gia Bạch Mã, năm 1991, nưi này đã dần dần được bảo tổn và phát triển phục vụ du lịch.

Hiện, những ngôi biệt thụ cổ của Pháp và những công trình như chợ, ngân hàng, bưu điện, hồ bơi, sân quần vợt... cùng hệ thống đường ô tô dài 19 km nối quốc lộ 1A với khu trung tâm của thành phố Bạch Mã một thời đang được tích cực bảo tồn, hứa hẹn trở thành một quần thể kiến trúc độc đáo có một không hai thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Tuesday, May 5, 2015

Thăm chùa Sơn Bằng

Du Lịch Huế - Ngược dòng Hương Giang đi về phía thượng nguồn, qua núi Tứ Tượng nơi có tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên cao sừng sững, là biểu tượng tâm linh oai nghiêm của Phật giáo xứ Huế, đến thôn Bằng Lãng xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, chùa Sơn Bằng hiện ra trong cỗ kính yên bình.

Sơn Bằng là một ngôi cổ tự được xây dựng từ thời xa xưa cho đến nay vẫn chưa rõ niên đại. Hiện trong chùa còn tấm biển có ba chữ “Sơn Bằng Tự” bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng do vị quan Thất phẩm cung tiến chùa vào năm Bảo Đại thứ 9, và cũng được biết vào năm 1897 quả đại hồng chung mới được đúc với trọng lượng 195kg, đến năm 1951 thì bị thất lạc. Sau đó, vào ngày 19 tháng 6 năm 1967, đệ tử bổn tự tịnh bổn thôn thành tâm phát nguyện đúc lại đại hồng chung với trọng lượng 350kg, dưới sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nguyên Trú trì Tây Thiên Di Đà tự.

Năm 1953 trận lũ lịch sử đã nhấn chìm cả thôn Bằng Lãng, chỉ còn lại ngôi chùa chống chọi với sống lụt, bà con dân làng chạy về lánh nạn trên mái, đến khi đông người quá mái bị đỗ, thế là chùa lại một lần chứng kiến cảnh điêu linh và hư hoại theo dông bảo thời gian.

Sau trận lũ lịch sử ấy, bà con dân làng người công kẻ của chung tay nhau để xây dựng lại ngôi chùa khang trang hơn, để hằng đêm đến tụng kinh lễ bái sau một ngày mệt nhọc với công việc đồng áng nương rẫy bộn bề

Chùa được kết cấu hài hòa trong một không gian thoáng đảng, gồm tiền đường và hậu tẩm. Cách bài trí thờ tự trong chùa rất đơn giản. Giữa chánh điện thờ pho tượng Bổn sư Thích Ca độc tôn, tả hữu thờ Quan Âm và Địa Tạng. Trước tiền đường có lầu chuông trống. Hai bên thờ tượng Hộ pháp và Tiêu Diện Đại Sĩ. Hậu tẩm, ở chính giữa thờ long vị ngài khai canh khai khẩn của làng và thập nhị tôn phái, hai bên thờ quá cô hương linh tiền hậu công đức, chư hương linh ký tự nhập tự. Trước sân có tượng Quan Thế Âm lộ thiên nét mặt hiền từ tay cầm cành dương liễu đang tưới nước cam lồ mát dịu xuống miền trần gian làm xoa dịu lòng si mê và sân hận. Cổng Tam quan là 4 trụ biểu uy nghiêm có giắn biển hiệu “Sơn Bằng Tự” được viết bằng chứ Quốc ngữ sơn vàng trên nền đá màu đen trong cỗ kính.

Đường vào chùa là một lối nhỏ men theo bờ tường được trồng cau xen lẫn với những loài hoa dại, nối dài với bãi cỏ xanh vào đến tận hàng hiên. Sân chùa sắp đặt những chậu cây cảnh ngay ngắn tươm tất, được người chủ chăm sóc uốn nắn nhiều thế trong đẹp mắt. Vườn chùa chủ yếu trồng mít, thanh trà và những cây ăn trái khác. Do đất mầu mở bởi lớp bồi phù sa sau những trận lụt nên cây cối tươi tốt quanh năm, nhất là cây mít cho ra nhiều trái bổ trợ vào nguồn thức ăn của nhà chùa.

Chùa quay mặt về phía dòng sông Hương nước trong xanh mát chảy giữa đôi bờ bên bồi bên lỡ; đằng sau gối đầu với núi Tứ Tượng nối dài, tạo nên thế đứng vững bền. Theo các bô lão trong làng cho biết diện tích đất chùa trước đây vốn rất rộng, nhưng vì thế duyên nên nhiều lần bị thu hẹp. Gần hơn hết là sau trận lụt năm 1999 càn quét, trường lớp, phòng óc ở địa phương bị hư hại nặng, chùa lại một lần nữa nhượng một phần đất để xây dựng trường học nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt học tập cho con em dân làng. Hiện giờ hai bên chùa có hai ngôi trường phổ thông cơ sở của xã Thủy Bằng. Đến đây chúng ta mới thấy được sự cân đối hài hòa giữa hai mặt động, tịnh của không gian và thời gian. Một bên ồn ào náo nhiệt của các em học sinh mỗi khi trống đánh giữa giờ, một bên là vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.

Cảnh chùa yên lành thanh tịnh nằm khiêm tốn giữa làng quê; là ngôi nhà chung cho tất cả bà con dân làng về đây tụng kinh lễ bái trong muôn rằm tứ quý. Từ đó, hạt giống Phật được sinh sôi triển nở trong tâm thức của tất cả mọi người. Niềm tin và lòng khát khao tu học Phật pháp của Phật tử nơi đây ngày một tinh tiến, ước mơ của họ là làm sao được cung thỉnh Chư tăng về Trụ trì để có người hướng dẫn tu học chánh pháp.

Vào tháng 9 năm 2004 Ban hộ tự, các vị Tộc trưởng và bà con dân làng trên dưới đều thuận lòng hiến cúng ngôi chùa cho Giáo hội và cung thỉnh Hòa thượng Thích Quán Chơn làm Trú trì với nguyện vọng duy trì phát triển và tạo nơi an tâm tu học cho bà con dân làng. Mặc dầu đang bộn bề nhiều Phật sự, nhưng vì sự khẩn cầu của bà con dân làng, Hòa thượng đã hứa khả đứng ra đảm nhận Trú trì để chăm lo Phật sự.

Chùa Sơn Bằng chính thức được BTS GHPG Thừa Thiên Huế tiếp nhận vào phiên họp ngày 4 tháng 7 năm 2007; đến ngày 1 tháng 5 năm 2007 lễ bổ nhiệm Trú trì với quyết định số 65/QĐ/BTS diễn ra trang nghiêm và trọng thể. Từ ngày có Chư tăng về ở, ngôi chùa trở nên ấm cúng, bổn đạo thập phương lui tới ngày một thêm nhiều, các hạng mục công trình được sửa sang chỉnh đốn ngày một khang trang đẹp đẻ.

Hiện tại, Đại đức Thích Trung Tạng là đệ tử của Hoà thượng Thích Quán Chơn đang tu học và chăm lo phụng sự Tam bảo tại đây. Ngôi chùa giờ đã trở nên gần gũi thân thương với bà con dân làng, tiếng mõ lời kinh lại vang lên đều đặn mỗi ngày, niềm phấn khởi hiện lên trên từng khuôn mặt của những người Phật tử. Giờ họ đã có chỗ trở về nương tựa thực sự; mỗi chiều sau những giờ làm việc mệt nhọc họ lại ghé qua chùa thăm Thầy, cùng ngồi uống chén trà nống đàm đạo trong cảnh thiền môn thanh tịnh mới thấy cuộc đời trở nên tươi vui ý nghĩa. Đây cũng là niềm tự hào của bà con dân làng, để rồi ai đó xa quê cũng phải thấy chạnh lòng vì:“Chuông vãng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông”

Sunday, May 3, 2015

Chùa Thiền Tôn - nơi phát xuất phái Thiền Liễu Quán

Du Lịch Huế - Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn.

Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp.

Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn.

Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.

Pháp kệ Liễu Quán :

Thiệt tế đại đạo
Tánh hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận
Đức bổn từ phong
Giới định phước huệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Mật khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chánh tông
Hạnh giải tương ưng
Đạt ngộ chơn không.



Toàn cảnh chùa

Tỳ kheo Thích Viên Giác trong bài viết :"Ý nghĩa pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán" cho biết : "Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử. Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo. (...)

Pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán có một ý nghĩa đặc biệt, đó là định hướng đường lối tu học cho các thế hệ đương thời. (...)

Toàn kệ có thể chia ra làm sáu phần hoặc lộ trình tu hành gồm sáu bước : 1. Thể tính vắng lặng; 2. Tâm thức thánh thiện; 3. Công phu hoàn chỉnh; 4. Trí tuệ vẹn toàn; 5. Hóa độ nhân gian; 6. Thành tựu thánh quả."

Chùa được trùng tu năm 1746 do ngài trụ trì Tế Hiệp - Hải Điện khởi công. Chưởng Thái giám Đoán Tài Hầu pháp danh Tế Ý đứng ra vận động xây dựng ngôi chùa khang trang, cho đúc đại hồng chung nay vẫn còn. Năm 1751, chùa được cấp tự điền ; năm 1772, chùa được duyệt cấp bằng khoán tự điền.

Các vị trụ trì kế tiếp là Tế Mẫn - Tổ Huấn, Đại Tuệ - Chiếu Nhiên đều có trùng tu ngôi tổ đình. Chùa tiếp tục được trùng tu vào năm 1793 do bà Đốc Hữu phát nguyện và năm 1799 do Hoàng đệ Thái Tể (thuộc triều Tây Sơn) phát nguyện trùng tu tự viện trang nghiêm.

Năm 1803, ngài Đạo Tâm - Trung Hậu trụ trì đã tổ chức trùng kiến. Bà Lê Thị Tạ pháp danh Tiên Quý đã có công quả lớn trong lần trùng tu này. Chùa được làm sườn gỗ lợp ngói, sinh hoạt Phật sự được phục hưng và phát triển.

Chùa được trùng tu thành tòa phạm vũ nguy nga vào các năm 1807-1809 do hai vị công chúa trong triều phát tâm cúng dường và tứ chúng đồng tâm hỗ trợ; trùng tu năm 1886 do Đại sư Hải Nhuận - Phước Thiêm tổ chức và năm 1899 do Đại sư Tâm Thiền tổ chức.

Năm 1940, chùa bị hư hỏng nặng, Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên, vị trụ trì đời thứ 10 đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Từ năm 1973 đến khi viên tịch (02-02-1979), Hòa thượng đảm nhận chức vụ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài kế thừa đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 8 pháp phái Liễu Quán.

Sau 60 năm chưa được sửa chữa, chùa bị hư dột nhiều nơi, nên vào ngày 23-02-2000, Hòa thượng trụ trì đời thứ 11 Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã cho khởi công đại trùng tu ngôi chùa với kinh phí khoảng 2 tỷ đồng, được khánh thành vào ngày 09-3-2001 (15-2 năm Tân Tỵ). Hòa thượng viên tịch tại chùa Từ Đàm ngày 03-10-2001 (17-8 năm Tân Tỵ), trụ thế 81 tuổi đời, 53 tuổi đạo.

Văn bia ở chùa có ghi :"Gốc sâu thì nhánh tốt, nguồn xa thì dòng dài; chốn phạm vũ này tuy ba lần tụ ba lần tán mà đạo vẫn không hề tăng giảm."

Chùa đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục năm 2008 :"Chùa Thiền Tôn, nơi phát xuất phái thiền Liễu Quán ở Việt Nam."

Tổ đình Thiền Tôn là ngôi thiền tự lớn ở Huế xưa nay.



Trụ biểu



Mặt tiền chùa



Điện Phật



Điện Phật



Điện Quan Âm



Điện Địa Tạng



Tượng Minh Vương



Tượng Minh Vương



Chân dung Thiền sư Liễu Quán



Chân dung cố Hòa thượng Thích Giác Nhiên



Đại hồng chung cổ trong chính điện



Sân sau ngôi chính điện



Đài Quan Âm



Tháp chuông



Nhà bia



Bia ghi sự lục ngôi tổ đình



Toàn cảnh tháp Tổ Liễu Quán



Cổng tháp Tổ Liễu Quán



Tháp Tổ Liễu Quán

Hành cung ‘tiêu sầu’ của vua Tự Đức

Du Lịch Huế - Khiêm Lăng, từng được coi là hành cung thứ hai – hành cung “tiêu sầu” của vua Tự Đức, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).
Vua Tự Đức, húy Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, còn có tên Nguyễn Phúc Thì là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn.

“Kẻ yếu” xây lăng phòng lúc “ra đi bất chợt”

Khiêm Lăng hay còn gọi là Lăng Tự Đức được xây dựng trong bối cảnh đất nước vô cùng khó khăn và bản thân nhà vua cũng có nhiều nỗi niềm riêng: bên ngoài giặc ngoại xâm lăm le chiếm đóng, bên trong huynh đệ lục đục giành nhau ngôi báu, bản thân nhà vua lại đau ốm, bệnh hoạn nên không có con.

Theo Khiêm Cung Ký, để giải tỏa bớt những u uất trong lòng và phần nào “lánh” đi những khắc nghiệt của cuộc đời ông sớm cho xây dựng một khu lăng tẩm “tiêu sầu” phòng lúc “ra đi bất chợt”, bởi “người khỏe còn lo chuyện bất thường huống chi kẻ yếu!”.



Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn.Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế.

Còn theo Trung tâm bảo tồn di sản Huế, lăng được khởi công xây dựng lăng vào năm 1864 với 5 vạn binh lính tham gia và dự định hoàn tất trong vòng 6 năm. Tuy nhiên, các quan vì muốn lập công nên đã cưỡng bức lính một cách cực lực xây lăng khiến sau hai năm xây dựng làm nổi lên loạn chày vôi. Đó là cuộc khởi nghĩa mà binh lính dùng chày đập vôi làm khí giới để tiến vào kinh đô Huế. Quân nổi loạn tiến vào theo ba lối Chương Đức, Hiển Nhơn, Hòa Bình nhưng cuộc nổi loạn thất bại vì những người cầm đầu đều bị bắt và giết chết. Sau sự kiện này, Tự Đức cách chức hai vị quan trông coi việc xây dựng.

Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho công trình. Tuy nhiên sau khởi nghĩa chày vôi, vua sợ mình đã động đến oai trời nên quyết định đổi tên là Khiêm Cung, sau khi vua mất gọi là Khiêm Lăng.

Công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn

Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường.

Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn. Ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét. Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn, rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh. Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ. Trong cái quyến rũ của mây nước, hương hoa đó, người ta như quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng…



Đây là công trình được coi là đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế.

Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần, thì là con đường chính dẫn vào khu vực điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Thoạt tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn – một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng, được đào rộng thành hồ. Đó là yếu tố “minh đường” để “tụ thủy”, “tích phúc”, đồng thời là nơi để thả hoa sen tạo cảnh. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm. Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách… Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn người ta đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa, như đưa họ sang thế giới thần tiên, mộng ảo ngay giữa chốn đời thường.

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường – nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua.

Lăng Tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.

Saturday, May 2, 2015

Điện Long An

Du Lịch Huế - Được xây dựng vào triều Thiệu Trị năm 1845, điện thuộc hành cung Bảo Định được xây dựng để làm nơi nghĩ ngơi thư giản và nơi ở của vua khi cày ruộng tịch điền. Đây là hành cung to lớn và đẹp với nhiều công trình kiến trúc xinh xăn, trong đó điện Long An là công trình chính.

Sau khi qua đời thi hài vua Thiệu Trị được quàng tại đây 8 tháng trước khi án táng tại Xương Lăng. Sau đó cung trở thành nơi thờ tự Vua.

Năm 1885 khi “kinh đô thất thủ”, quân Pháp đã đánh chiếm hành cung này và biến nó thành doanh trại, bài vị vua Thiệu Trị đã được rước vào điện Phụng Tiên trong hoàng thành. Sau đó toàn bộ hành cung đã bị triệt giải, tất cả các công trình đều bị tháo dỡ và điện Long An cũng chung số phận.

Đến năm 1909 dưới triều Duy Tân, điện được dựng lại để làm Tân Thơ viện của trường Quốc tử giám, nơi lưu trữ hàng ngàn tài liệu quý giá bằng tiếng Hán, Anh, Pháp….

Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ được thành lập trên cơ sở sưu tầm những hiện vật liên quan đến tỉnh Thừa Thiên – Huế và những vấn đề văn hóa và mỹ thuật thời Nguyễn. Học hội đã đặt nền móng ban đầu cho việc sưu tập và lưu trữ cổ vật cho bảo tàng này.

Ngày Ngày 24/8/1923, Khâm Sứ Trung kỳ và vua Khải Ðịnh cùng ban sắc dùng Ðiện Long An làm Bảo tàng Khải Ðịnh.

Khái quát điện Long An

Ðiện Long An hình chữ nhật dài 35,70 m, rộng 28 m, vỉa ốp đá thanh nền cao 1,1 m. Diện tích phần mái rộng đến 1.750 m², nằm trên dàn trò được chống đỡ bằng hệ thống 128 cột gỗ lim. Ðây là tòa nhà kép “Trùng thiềm điệp ốc”. Nhà trước 7 gian với 8 bộ “vì kèo chồng rường giả thủ”. Nhà sau 5 gian với 6 bộ “vì kèo cánh ác”. Điều khác biệt với các ngôi điện khác là những chi tiết gỗ không sơn son thếp vàng, chỉ để mộc trơn và được tô điểm bằng các kỹ thuật chạm trổ tinh xảo theo đồ án “lưỡng long triều nguyệt”, “long, lân, quy, phượng”. Các liên ba, đồ bản chạm khắc nhiều bài thơ là trước tác của vua Thiệu Trị, được bố trí sắp xếp hầu hết ở các khu vực bên trong ngôi điện một cách hài hòa.

Điện Long An nay được sử dụng thành Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế



Sân trước điện Long An

Bộ sưu tập súng thần công



Ngày nay điện là nơi trưng bày các di vật triều Nguyễn

Nghệ thuật kiến trúc điện là sự kết hợp giữa kiến trúc vừa chịu lực vừa trang trí. Các bộ vì kèo ở tiền điện không được thiết kế theo lối truyền thống “chồng rường giả thủ” mà bằng nghệ thuật chạm lộng các nghệ nhân xưa đã chạm nên đồ án lưỡng long tranh châu đồ sộ và liền khối. Vì thế mà du khách đến tham quan thường tưởng lầm đây là những đồ án trang trí chứ không phải là thiết kế chịu lực.



Kiến trúc nội thất điện Long An.



Trang trí khảm – thi họa – hoa văn ở ô hộc.



Hộp sơn mài đựng thẻ chơi bài sừng ngà.

Phần trang trí trong điện lại càng đáng nói: liên kết giữa các gian tiền điện và chính điện là các ô hộc trang trí theo lối nhất thi nhất họa, và thay vì được sơn son thếp vàng thì các ô hộc này lại được khảm trực tiếp bằng xương, ngà voi, xà cừ… Những bài thơ này phần lớn là của chủ nhân ngôi điện sáng tác. Trong số 623 ô hộc đó thì có hai tác phẩm rất đặc biệt và cho đến nay vẫn chưa được giải đáp, đó là bài Vũ trung sơn thủy và Phước viên văn hội lương dạ mạn ngâm, tuy mỗi bài chỉ có 56 chữ nhưng khi xếp theo lối hồi văn kiêm liên hoàn thì sẽ tạo thành 64 bài thơ khác nhau.



Bình gốm hoa văn cổ.



Trấn phong làm bằng bạc.



Bộ lá ngọc cành vàng.



Nậm rượu men lam và khay hộp pháp lam



Lư đồng khảm vàng bạc và bát men hoa lam.



Lư xông trầm.

Ngày nay điện là bảo tàng mỷ thuật cung đình Huế, nơi trưng bày bộ sưu tập khổng lồ về các di vật cũng như các tác phẩm nghệ thuật của triều Nguyễn và các nước. Đến thăm quan điện ta sẽ cảm nhận được cái vàng son của hoàng cung xưa.

Hiện nay điện đang được trùng tu, mong sau điện sẽ được trả lại chức năng vốn có của mình là nơi thờ tự và lưu giữ các kỹ vật của chủ nhân nó – Vua Thiệu Trị

Kỳ Đài Huế

Du Lịch Huế - Kỳ đài nằm ở chính giữa mặt trước kinh thành, được kiến trúc tương đối lớn, gồm hai phần: đài cờ và cột cờ. Đài xây bằng gạch, gồm 3 tầng như 3 hình tháp cụt xếp chồng lên nhau với tổng chiều cao là 17,5m. Đài được xây vào năm 1807. Trên mặt đài, trước đây có hai điểm canh và 4 pháo xưởng để bố trí 4 khẩu đại bác.

Chung quanh mỗi tầng đều có xây lan can, mặt nền của các tầng đài đều lát gạch Bát Tràng. Lối đi từ tầng dưới lên tầng trên cùng trổ ở mặt bắc. ở tầng trên cùng, xưa có hai điếm canh và pháo xưởng để bố trí các khẩu đại bác. Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm 2 tầng, cao gần 30m. Năm Thiệu Trị 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài suốt hơn 32m. Đến năm Thành Thái 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn thổi gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê-tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m hiện thấy mới được xây dựng.



Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển.

Cùng với những bước thăng trầm của Huế, Kỳ Đài là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Ngày 23/8/1945, lần đầu tiên lá cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tung bay phất phới trên đỉnh Kỳ Đài, báo hiệu sự chấm dứt của chế độ quân chủ. Kỳ Đài không chỉ là vị trí trung tâm của Thành phố Huế mà còn là một biểu tượng của mảnh đất Cố đô.