Tuesday, June 9, 2015

Chợ Đông Ba

Chợ Đông Ba dưới thời vua Gia Long tọa lạc ở bên ngoài cửa Chánh Đông (cửa Đông Ba). Sau biến cố kinh thành Huế 1885 chợ bị thực dân Pháp triệt hạ. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây dựng lại lấy tên là Đông Ba. Năm 1899, vua Thành Thái cho dời chợ Đông Ba về vị trí hiện nay.

Trải qua thời gian chợ Đông Ba đã nhiều lần tu sửa với diện tích 47.614m2 từ cầu Gia Hội đến cầu Trường Tiền, một mặt là sông Hương, một mặt là phố chính Trần Hưng Đạo, chợ Đông Ba có kiến trúc ba lầu vuông vức với hàng ngàn lô hàng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá của nhân dân.


Ngoài vị trí là một trung tâm thương mại lớn của Tỉnh, với lịch sử hơn 100 xây dựng và phát triển chợ Đông Ba còn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay từ khi mới thành lập tầng lớp tiểu thương chợ Đông Ba đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính, ủng hộ hoạt động của các nhà yêu nước. Ngày 17 tháng 6 năm 1954, trên 400 tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia đoàn biểu tình hơn hai vạn người dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Huế, ủng hộ quan điểm của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Cuộc mittin đã thắng lợi gây tiếng vang lớn trong cả nước, từ 1954 đến 1975 lực lượng tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia, tổ chức 255 cuộc biểu tình, xuống đường, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai... Trong cuộc đấu tranh đó, nhiều tiểu thương đã trưởng thành và trở thành những cán bộ kiên cường của cách mạng, nhiều chị là cơ sở bí mật, nuôi giấu cán bộ, nhiều chị đã anh dũng hy sinh trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, mặc dù bị giam cầm, tra tấn tù đày nhưng chị em tiểu thương chợ Đông Ba vẫn trung kiên một lòng theo cách mạng, theo Bác Hồ.

Những đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba tô điểm thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc. Ghi nhận những thành tích công lao đó, năm 1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao tặng chị em tiểu thương các chợ thành phố Huế nói chung, trong đó có sự đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba phần thưởng cao quý Huân chương kháng chiến hạng nhất. Nối tiếp truyền thống đó giờ đây chợ Đông Ba vẫn xứng đáng là trung tâm thương mại của Tỉnh, tham gia tích cực các hoạt động đền ơn đáp nghĩa...

Chín dãy nhà xung quanh là khu trung tâm chợ với những gian hàng tiêu dùng treo lũng lẵng đầy ăm ắp những sản phẩm rực rỡ sắc màu phục vụ đầy đủ những yêu cầu thiết thực của cuộc sống người dân.Ngoài ra chợ cũng có những gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ ,những sản phẩm lưu niệm dành cho khách du lịch như nón bài thơ Phú Cam, tranh lụa, áo quần in thắng cảnh Huế, đồ kim hoàn Kế Môn,dao kéo Hiền Lươnghay những sản phẩm thủ công khác….Du khách dễ dàng tìm cho mình những món quà lưu niệm tặng cho người thân ở tầng trệt hay lầu một của chợ với giá cả phải chăng, đặc biệt là bạn sẽ hài lòng với thái độ phục vụ lịch sự,nhẹ nhàng của những tiểu thương thành Huế.

Đến gian hàng thực phẩm của chợ tôi bảo đảm bạn sẽ bị hoa mắt ,chảy nước miếng bởi quá nhiều sản vật thơm ngon được bày bán ở đây. Những tinh tuý ẩm thực của Thừa Thiên Huế còn giữ được cho đến nay đều có thể tìm thấy ở khu này của ngôi chợ cổ Đông Ba : mè xửng Song Hỷ, dâu Truồi, chè Tuần, thanh trà Lại Bằng, sen khô hồ Tịnh.

Đến khu dịch vụ ăn uống bạn sẽ tha hồ thưởng thức các món đặc sản truyền thống bình dân do chính người gốc Huế chế biến với giá cả rất rẻ như như: cơm hến, bún bò, bánh lá, chả tôm, bánh khoái, chè đậu ván ... Nếu chưa no nê bạn hãy ghé qua khu thực phẩm tươi sống như rau củ, tôm cá.Những gian hàng rau cũ tươi xanh mơn mỡn còn đọng sương đêm được các tiểu thương lấy từ các vùng ngoại ô lân cận phục vụ cho người dân nội thành.Các loài thủy hải sản tươi ngon đầy ăm ắp cũng được lấy từ các vùng biển không xa kinh thành Huế như Thuận An, Phú Lộc.. .Người dân Huế thường rất tự hào vì được dùng những thức ăn tươi ngon và khá đảm bảo về an tòan vệ sinh.

Chợ Đông Ba nổi tiếng bởi sự cổ kính và sầm uất. Là nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm đẹp đẽ của mỗi một người dân Huế.Là ấn tượng khó phai đối với những du khách thập phương một lần đến đây. Cùng với cầu Trường Tiền, sông Hương ,chợ Đông Ba là biểu tượng của xứ Huế thơ mộng.

Friday, May 8, 2015

Điện Phụng Tiên

Điện Phụng Tiên (chữ Hán 奉先殿, điện nơi thờ phụng người trước) là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Ngôi miếu dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế.

Lịch sử

Thời gian xây dựng của điện là không rõ, chỉ biết là nó đã được xây dựng khi vua Gia Long vẫn còn sống. Khi đó nó là một ngôi điện bằng gỗ có tên là Hoàng Nhân, vị trí gần cửa Hiển Nhân (ngày nay là Đại học Nghệ thuật Huế). Khi Gia Long mất, quan tài của ông đã được quàn tại đây 3 tháng trước khi được an táng ở lăng Gia Long. Điện Hoàng Nhân là nơi thờ cúng Gia Long kể từ năm 1820.

Năm 1829, vua Minh Mạng cho đổi tên điện Hoàng Nhân thành điện Phụng Tiên. Và đến năm 1837, ông cho dời điện từ vị trí gần cửa Hiển Nhân đến vị trí ngày nay, gần cửa Chương Đức.

Mặc dù về sau, triều đình nhà Nguyễn có xây Thế Miếu với cùng một chức năng là thờ cúng Gia Long và các vị vua kế vị nhưng điện Phụng Tiên vẫn được duy trì để thờ các vua ấy, vì một lý do đặc biệt: theo quy định của Triều đình, Thế Miếu là "công miếu", các cuộc tế lễ ở đây đều là những buổi lễ có tính chất quốc gia với sự hiện diện của vua, hoàng thân và đình thần; tuyệt đối cấm nữ giới cho dù họ có là người trong Hoàng gia, nhưng họ có thể tới điện Phụng Tiên để thực hiện việc thờ tự.

Điện cũng là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhà Nguyễn, nhưng đến tháng 2 năm 1947, toàn bộ đã bị thất thoát cũng như đốt cháy theo điện. Hiện giờ chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.
Kiến trúc


Nội thất điện Phụng Thiên vào năm 1930

Điện Phụng tiên là một tòa nhà kép to lớn, to ngang Thế Miếu nhưng có thêm mái lưa ở phía trước. Phần chính doanh có 9 gian 2 chái, mỗi gian thờ một vua; phần tiền doanh có 11 gian. Mái điện được lợp ngói ống hoàng lưu ly cùng với ngói câu đầu trích thủy; phần nền thì được lát bằng gạch Bát Tràng tráng men. Sân trước điện khá rộng cũng được lát bằng gạch Bát Tràng. Sát hiên trước có một hàng chậu sứ trồng cây cảnh được đặt trên các đôn bằng đá chạm. Cuối sân có một bể cạn lớn làm bằng đá, bên trong có một hòn non bộ, xây bằng đá tựa vào một bức bình phong giăng dài phía sau cửa tam quan. Ở giữa mặt trước khuôn viên có vòng thành bao quanh.


Nơi điện Phụng Tiên ngày xưa tọa lạc
Hoạt động

Khi còn hoạt động với chức năng thờ tự của mình, điện Phụng Tiên là một đền thờ nguy nga lộng lẫy với rất nhiều đồ tự khi mà khi sinh thời các vua Nguyễn đã dùng. Một người Pháp tên Robert R. de la Susse đã gọi điện Phụng Tiên là một bảo tàng ở Hoàng cung Huế, qua lời mô tả của Susse, năm 1913 điện trông như một bảo tàng với việc năm 1911 hầu hết các bảo vật của các Vua và Hoàng hậu đều được thống kê và đưa vào tủ kính để ở đầu điện. Đồ được đặt trong tủ có rất nhiều loại: các khẩu súng hỏa mai nguyên do Pháp chế tạo của vua Tự Đức, các đồ đồng do người Việt đúc ở thời Minh Mạng, các loại đồ đồng tráng men, bộ sưu tập tiền đồng, các bảo vật của các đời vua và các chậu lung với cây cỏ, canh san hô được làm bằng vàng và ngọc, cùng với các đồ dùng của vua Tự Đức.. Trong số đó bảo vật đặc biệt nhất là hai bộ đồ thờ "tam sự" bằng ngọc bích, hai đĩa lớn đường kính 40cm; hai bức trấn phong bằng ngọc thạch nguyên bản. Ngoài ra điện còn lưu trữ các bảo ấn, các kim sách, vương miện, đồ uống trà làm bằng vàng nguyên chất.

Về việc chăm sóc hương khói, như trong phần lịch sử có nói về sự phân biệt nam nữ trong thờ cúng ở Điện Phụng Tiên và Thế Miếu . Điện Phụng Tiên do "các cô phụng trực", với đa số là thành viên của Hoàng tộc góa bụa hoặc không lấy chồng ăn ở trong các ngôi nhà phụ trong khuôn viện điện cho đến trọng đời, đảm nhiệm (còn Thế Miếu là do Ty Từ Tế phụ trách).

Wednesday, May 6, 2015

'Độc đáo' cảnh quan trên đỉnh Bạch Mã

139 biệt thự nghỉ mát được người Pháp xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ 20 để nghỉ mát tọa lạc trên độ cao từ 1.000 đến 1.400m tại Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) đến nay cái còn cái mất song vẫn mang lại nét cổ kính, độc đáo cho cảnh quan nơi này.

Theo tài liệu ghi lại, sở dĩ có việc lập ra quần thể kiến trúc này vì người Pháp muốn dùng nơi dây làm nơi nghỉ mát. Vườn Quốc gia Bạch Mã thuộc địa phận 2 huyện, huyện Phú Lộc và huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế 60km về phía Nam. Đây là nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và khí hậu rất trong lành.

Ở Bạch Mã lúc nào nhiệt độ cũng mát lạnh hơn các vùng dưới thấp từ 8 đến 10 độ. Khí hậu ở đây gần giống Ðà Lạt, Sa Pa, Tam Ðảo, nhưng do gần biển nên nhiệt độ mùa đông không bao giờ xuống dưới 4ºC và nhiệt độ cao nhất vào mùa hè ít khi vượt quá 26ºC. Khí hậu của Bạch Mã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những vùng khí hậu dễ chịu nhất của những nơi nghỉ trên vùng núi Đông Dương.

Không những có khí hậu dễ chịu, ở Bạch Mã còn có cảnh quan vô cùng đẹp với khung trời lồng lộng, những dãy núi trùng điệp, đỉnh núi nhấp nhô bắt mắt tới tận đầm Cầu Hai, cửa Tư Hiền, vụng Chân Mây sát bờ biển Ðông.

Vườn Quốc gia Bạch Mã còn giữ được hầu như nguyên vẹn những thảm thực vật phong phú và những cánh rừng nguyên sinh bát ngát...

Vào những năm từ 1916 đến 1925, Bạch Mã chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, các kế hoạch về bảo tồn và thành lập vườn quốc gia đã làm mọi người chú ý đến vùng núi này. Một kỹ sư người pháp là Girard đã tổ chức khai phá vùng núi này vào năm 1932 nhằm phát triển du lịch của Bạch Mã. Điều này dẫn đến sự tăng vọt của số lượng khu nghỉ mát ở vùng này bao gồm các biệt thự, khách sản và kéo theo đó là phát triển về giao thông công cộng.

Tuy nhiên, nhưng công trình này chủ yếu chỉ để phục vụ giới có tiền thời đó và các quan chức của Pháp.

Sau khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam kết thúc vào năm 1954, mọi người quên dần đi sự tồn tại của Bạch Mã khiến các kiến trúc xây dựng nơi đây bị bào mòn dần bởi thời gian. Phải đến năm 1960, Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập lại nhưng chiến tranh tiếp tục kéo dài liên miên khiến nó lại rơi vào quên lãng. Khu Bạch Mã được dùng làm căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trong thời gian này.

Sau khi hòa bình lập lại, Chính phủ đã có nhiều dự án phát triển trồng trọt tại khu này nhưng vẫn thất bại do điều kiện thời tiết. Với sự thành lập chính thức Vườn quốc gia Bạch Mã, năm 1991, nưi này đã dần dần được bảo tổn và phát triển phục vụ du lịch.

Hiện, những ngôi biệt thụ cổ của Pháp và những công trình như chợ, ngân hàng, bưu điện, hồ bơi, sân quần vợt... cùng hệ thống đường ô tô dài 19 km nối quốc lộ 1A với khu trung tâm của thành phố Bạch Mã một thời đang được tích cực bảo tồn, hứa hẹn trở thành một quần thể kiến trúc độc đáo có một không hai thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Tuesday, May 5, 2015

Thăm chùa Sơn Bằng

Du Lịch Huế - Ngược dòng Hương Giang đi về phía thượng nguồn, qua núi Tứ Tượng nơi có tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên cao sừng sững, là biểu tượng tâm linh oai nghiêm của Phật giáo xứ Huế, đến thôn Bằng Lãng xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, chùa Sơn Bằng hiện ra trong cỗ kính yên bình.

Sơn Bằng là một ngôi cổ tự được xây dựng từ thời xa xưa cho đến nay vẫn chưa rõ niên đại. Hiện trong chùa còn tấm biển có ba chữ “Sơn Bằng Tự” bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng do vị quan Thất phẩm cung tiến chùa vào năm Bảo Đại thứ 9, và cũng được biết vào năm 1897 quả đại hồng chung mới được đúc với trọng lượng 195kg, đến năm 1951 thì bị thất lạc. Sau đó, vào ngày 19 tháng 6 năm 1967, đệ tử bổn tự tịnh bổn thôn thành tâm phát nguyện đúc lại đại hồng chung với trọng lượng 350kg, dưới sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nguyên Trú trì Tây Thiên Di Đà tự.

Năm 1953 trận lũ lịch sử đã nhấn chìm cả thôn Bằng Lãng, chỉ còn lại ngôi chùa chống chọi với sống lụt, bà con dân làng chạy về lánh nạn trên mái, đến khi đông người quá mái bị đỗ, thế là chùa lại một lần chứng kiến cảnh điêu linh và hư hoại theo dông bảo thời gian.

Sau trận lũ lịch sử ấy, bà con dân làng người công kẻ của chung tay nhau để xây dựng lại ngôi chùa khang trang hơn, để hằng đêm đến tụng kinh lễ bái sau một ngày mệt nhọc với công việc đồng áng nương rẫy bộn bề

Chùa được kết cấu hài hòa trong một không gian thoáng đảng, gồm tiền đường và hậu tẩm. Cách bài trí thờ tự trong chùa rất đơn giản. Giữa chánh điện thờ pho tượng Bổn sư Thích Ca độc tôn, tả hữu thờ Quan Âm và Địa Tạng. Trước tiền đường có lầu chuông trống. Hai bên thờ tượng Hộ pháp và Tiêu Diện Đại Sĩ. Hậu tẩm, ở chính giữa thờ long vị ngài khai canh khai khẩn của làng và thập nhị tôn phái, hai bên thờ quá cô hương linh tiền hậu công đức, chư hương linh ký tự nhập tự. Trước sân có tượng Quan Thế Âm lộ thiên nét mặt hiền từ tay cầm cành dương liễu đang tưới nước cam lồ mát dịu xuống miền trần gian làm xoa dịu lòng si mê và sân hận. Cổng Tam quan là 4 trụ biểu uy nghiêm có giắn biển hiệu “Sơn Bằng Tự” được viết bằng chứ Quốc ngữ sơn vàng trên nền đá màu đen trong cỗ kính.

Đường vào chùa là một lối nhỏ men theo bờ tường được trồng cau xen lẫn với những loài hoa dại, nối dài với bãi cỏ xanh vào đến tận hàng hiên. Sân chùa sắp đặt những chậu cây cảnh ngay ngắn tươm tất, được người chủ chăm sóc uốn nắn nhiều thế trong đẹp mắt. Vườn chùa chủ yếu trồng mít, thanh trà và những cây ăn trái khác. Do đất mầu mở bởi lớp bồi phù sa sau những trận lụt nên cây cối tươi tốt quanh năm, nhất là cây mít cho ra nhiều trái bổ trợ vào nguồn thức ăn của nhà chùa.

Chùa quay mặt về phía dòng sông Hương nước trong xanh mát chảy giữa đôi bờ bên bồi bên lỡ; đằng sau gối đầu với núi Tứ Tượng nối dài, tạo nên thế đứng vững bền. Theo các bô lão trong làng cho biết diện tích đất chùa trước đây vốn rất rộng, nhưng vì thế duyên nên nhiều lần bị thu hẹp. Gần hơn hết là sau trận lụt năm 1999 càn quét, trường lớp, phòng óc ở địa phương bị hư hại nặng, chùa lại một lần nữa nhượng một phần đất để xây dựng trường học nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt học tập cho con em dân làng. Hiện giờ hai bên chùa có hai ngôi trường phổ thông cơ sở của xã Thủy Bằng. Đến đây chúng ta mới thấy được sự cân đối hài hòa giữa hai mặt động, tịnh của không gian và thời gian. Một bên ồn ào náo nhiệt của các em học sinh mỗi khi trống đánh giữa giờ, một bên là vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.

Cảnh chùa yên lành thanh tịnh nằm khiêm tốn giữa làng quê; là ngôi nhà chung cho tất cả bà con dân làng về đây tụng kinh lễ bái trong muôn rằm tứ quý. Từ đó, hạt giống Phật được sinh sôi triển nở trong tâm thức của tất cả mọi người. Niềm tin và lòng khát khao tu học Phật pháp của Phật tử nơi đây ngày một tinh tiến, ước mơ của họ là làm sao được cung thỉnh Chư tăng về Trụ trì để có người hướng dẫn tu học chánh pháp.

Vào tháng 9 năm 2004 Ban hộ tự, các vị Tộc trưởng và bà con dân làng trên dưới đều thuận lòng hiến cúng ngôi chùa cho Giáo hội và cung thỉnh Hòa thượng Thích Quán Chơn làm Trú trì với nguyện vọng duy trì phát triển và tạo nơi an tâm tu học cho bà con dân làng. Mặc dầu đang bộn bề nhiều Phật sự, nhưng vì sự khẩn cầu của bà con dân làng, Hòa thượng đã hứa khả đứng ra đảm nhận Trú trì để chăm lo Phật sự.

Chùa Sơn Bằng chính thức được BTS GHPG Thừa Thiên Huế tiếp nhận vào phiên họp ngày 4 tháng 7 năm 2007; đến ngày 1 tháng 5 năm 2007 lễ bổ nhiệm Trú trì với quyết định số 65/QĐ/BTS diễn ra trang nghiêm và trọng thể. Từ ngày có Chư tăng về ở, ngôi chùa trở nên ấm cúng, bổn đạo thập phương lui tới ngày một thêm nhiều, các hạng mục công trình được sửa sang chỉnh đốn ngày một khang trang đẹp đẻ.

Hiện tại, Đại đức Thích Trung Tạng là đệ tử của Hoà thượng Thích Quán Chơn đang tu học và chăm lo phụng sự Tam bảo tại đây. Ngôi chùa giờ đã trở nên gần gũi thân thương với bà con dân làng, tiếng mõ lời kinh lại vang lên đều đặn mỗi ngày, niềm phấn khởi hiện lên trên từng khuôn mặt của những người Phật tử. Giờ họ đã có chỗ trở về nương tựa thực sự; mỗi chiều sau những giờ làm việc mệt nhọc họ lại ghé qua chùa thăm Thầy, cùng ngồi uống chén trà nống đàm đạo trong cảnh thiền môn thanh tịnh mới thấy cuộc đời trở nên tươi vui ý nghĩa. Đây cũng là niềm tự hào của bà con dân làng, để rồi ai đó xa quê cũng phải thấy chạnh lòng vì:“Chuông vãng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông”

Sunday, May 3, 2015

Chùa Thiền Tôn - nơi phát xuất phái Thiền Liễu Quán

Du Lịch Huế - Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn.

Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp.

Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn.

Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.

Pháp kệ Liễu Quán :

Thiệt tế đại đạo
Tánh hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận
Đức bổn từ phong
Giới định phước huệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Mật khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chánh tông
Hạnh giải tương ưng
Đạt ngộ chơn không.



Toàn cảnh chùa

Tỳ kheo Thích Viên Giác trong bài viết :"Ý nghĩa pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán" cho biết : "Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử. Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo. (...)

Pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán có một ý nghĩa đặc biệt, đó là định hướng đường lối tu học cho các thế hệ đương thời. (...)

Toàn kệ có thể chia ra làm sáu phần hoặc lộ trình tu hành gồm sáu bước : 1. Thể tính vắng lặng; 2. Tâm thức thánh thiện; 3. Công phu hoàn chỉnh; 4. Trí tuệ vẹn toàn; 5. Hóa độ nhân gian; 6. Thành tựu thánh quả."

Chùa được trùng tu năm 1746 do ngài trụ trì Tế Hiệp - Hải Điện khởi công. Chưởng Thái giám Đoán Tài Hầu pháp danh Tế Ý đứng ra vận động xây dựng ngôi chùa khang trang, cho đúc đại hồng chung nay vẫn còn. Năm 1751, chùa được cấp tự điền ; năm 1772, chùa được duyệt cấp bằng khoán tự điền.

Các vị trụ trì kế tiếp là Tế Mẫn - Tổ Huấn, Đại Tuệ - Chiếu Nhiên đều có trùng tu ngôi tổ đình. Chùa tiếp tục được trùng tu vào năm 1793 do bà Đốc Hữu phát nguyện và năm 1799 do Hoàng đệ Thái Tể (thuộc triều Tây Sơn) phát nguyện trùng tu tự viện trang nghiêm.

Năm 1803, ngài Đạo Tâm - Trung Hậu trụ trì đã tổ chức trùng kiến. Bà Lê Thị Tạ pháp danh Tiên Quý đã có công quả lớn trong lần trùng tu này. Chùa được làm sườn gỗ lợp ngói, sinh hoạt Phật sự được phục hưng và phát triển.

Chùa được trùng tu thành tòa phạm vũ nguy nga vào các năm 1807-1809 do hai vị công chúa trong triều phát tâm cúng dường và tứ chúng đồng tâm hỗ trợ; trùng tu năm 1886 do Đại sư Hải Nhuận - Phước Thiêm tổ chức và năm 1899 do Đại sư Tâm Thiền tổ chức.

Năm 1940, chùa bị hư hỏng nặng, Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên, vị trụ trì đời thứ 10 đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Từ năm 1973 đến khi viên tịch (02-02-1979), Hòa thượng đảm nhận chức vụ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài kế thừa đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 8 pháp phái Liễu Quán.

Sau 60 năm chưa được sửa chữa, chùa bị hư dột nhiều nơi, nên vào ngày 23-02-2000, Hòa thượng trụ trì đời thứ 11 Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã cho khởi công đại trùng tu ngôi chùa với kinh phí khoảng 2 tỷ đồng, được khánh thành vào ngày 09-3-2001 (15-2 năm Tân Tỵ). Hòa thượng viên tịch tại chùa Từ Đàm ngày 03-10-2001 (17-8 năm Tân Tỵ), trụ thế 81 tuổi đời, 53 tuổi đạo.

Văn bia ở chùa có ghi :"Gốc sâu thì nhánh tốt, nguồn xa thì dòng dài; chốn phạm vũ này tuy ba lần tụ ba lần tán mà đạo vẫn không hề tăng giảm."

Chùa đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục năm 2008 :"Chùa Thiền Tôn, nơi phát xuất phái thiền Liễu Quán ở Việt Nam."

Tổ đình Thiền Tôn là ngôi thiền tự lớn ở Huế xưa nay.



Trụ biểu



Mặt tiền chùa



Điện Phật



Điện Phật



Điện Quan Âm



Điện Địa Tạng



Tượng Minh Vương



Tượng Minh Vương



Chân dung Thiền sư Liễu Quán



Chân dung cố Hòa thượng Thích Giác Nhiên



Đại hồng chung cổ trong chính điện



Sân sau ngôi chính điện



Đài Quan Âm



Tháp chuông



Nhà bia



Bia ghi sự lục ngôi tổ đình



Toàn cảnh tháp Tổ Liễu Quán



Cổng tháp Tổ Liễu Quán



Tháp Tổ Liễu Quán

Hành cung ‘tiêu sầu’ của vua Tự Đức

Du Lịch Huế - Khiêm Lăng, từng được coi là hành cung thứ hai – hành cung “tiêu sầu” của vua Tự Đức, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).
Vua Tự Đức, húy Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, còn có tên Nguyễn Phúc Thì là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn.

“Kẻ yếu” xây lăng phòng lúc “ra đi bất chợt”

Khiêm Lăng hay còn gọi là Lăng Tự Đức được xây dựng trong bối cảnh đất nước vô cùng khó khăn và bản thân nhà vua cũng có nhiều nỗi niềm riêng: bên ngoài giặc ngoại xâm lăm le chiếm đóng, bên trong huynh đệ lục đục giành nhau ngôi báu, bản thân nhà vua lại đau ốm, bệnh hoạn nên không có con.

Theo Khiêm Cung Ký, để giải tỏa bớt những u uất trong lòng và phần nào “lánh” đi những khắc nghiệt của cuộc đời ông sớm cho xây dựng một khu lăng tẩm “tiêu sầu” phòng lúc “ra đi bất chợt”, bởi “người khỏe còn lo chuyện bất thường huống chi kẻ yếu!”.



Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn.Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế.

Còn theo Trung tâm bảo tồn di sản Huế, lăng được khởi công xây dựng lăng vào năm 1864 với 5 vạn binh lính tham gia và dự định hoàn tất trong vòng 6 năm. Tuy nhiên, các quan vì muốn lập công nên đã cưỡng bức lính một cách cực lực xây lăng khiến sau hai năm xây dựng làm nổi lên loạn chày vôi. Đó là cuộc khởi nghĩa mà binh lính dùng chày đập vôi làm khí giới để tiến vào kinh đô Huế. Quân nổi loạn tiến vào theo ba lối Chương Đức, Hiển Nhơn, Hòa Bình nhưng cuộc nổi loạn thất bại vì những người cầm đầu đều bị bắt và giết chết. Sau sự kiện này, Tự Đức cách chức hai vị quan trông coi việc xây dựng.

Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho công trình. Tuy nhiên sau khởi nghĩa chày vôi, vua sợ mình đã động đến oai trời nên quyết định đổi tên là Khiêm Cung, sau khi vua mất gọi là Khiêm Lăng.

Công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn

Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường.

Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn. Ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét. Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn, rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh. Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ. Trong cái quyến rũ của mây nước, hương hoa đó, người ta như quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng…



Đây là công trình được coi là đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế.

Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần, thì là con đường chính dẫn vào khu vực điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Thoạt tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn – một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng, được đào rộng thành hồ. Đó là yếu tố “minh đường” để “tụ thủy”, “tích phúc”, đồng thời là nơi để thả hoa sen tạo cảnh. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm. Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách… Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn người ta đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa, như đưa họ sang thế giới thần tiên, mộng ảo ngay giữa chốn đời thường.

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường – nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua.

Lăng Tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.

Saturday, May 2, 2015

Điện Long An

Du Lịch Huế - Được xây dựng vào triều Thiệu Trị năm 1845, điện thuộc hành cung Bảo Định được xây dựng để làm nơi nghĩ ngơi thư giản và nơi ở của vua khi cày ruộng tịch điền. Đây là hành cung to lớn và đẹp với nhiều công trình kiến trúc xinh xăn, trong đó điện Long An là công trình chính.

Sau khi qua đời thi hài vua Thiệu Trị được quàng tại đây 8 tháng trước khi án táng tại Xương Lăng. Sau đó cung trở thành nơi thờ tự Vua.

Năm 1885 khi “kinh đô thất thủ”, quân Pháp đã đánh chiếm hành cung này và biến nó thành doanh trại, bài vị vua Thiệu Trị đã được rước vào điện Phụng Tiên trong hoàng thành. Sau đó toàn bộ hành cung đã bị triệt giải, tất cả các công trình đều bị tháo dỡ và điện Long An cũng chung số phận.

Đến năm 1909 dưới triều Duy Tân, điện được dựng lại để làm Tân Thơ viện của trường Quốc tử giám, nơi lưu trữ hàng ngàn tài liệu quý giá bằng tiếng Hán, Anh, Pháp….

Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ được thành lập trên cơ sở sưu tầm những hiện vật liên quan đến tỉnh Thừa Thiên – Huế và những vấn đề văn hóa và mỹ thuật thời Nguyễn. Học hội đã đặt nền móng ban đầu cho việc sưu tập và lưu trữ cổ vật cho bảo tàng này.

Ngày Ngày 24/8/1923, Khâm Sứ Trung kỳ và vua Khải Ðịnh cùng ban sắc dùng Ðiện Long An làm Bảo tàng Khải Ðịnh.

Khái quát điện Long An

Ðiện Long An hình chữ nhật dài 35,70 m, rộng 28 m, vỉa ốp đá thanh nền cao 1,1 m. Diện tích phần mái rộng đến 1.750 m², nằm trên dàn trò được chống đỡ bằng hệ thống 128 cột gỗ lim. Ðây là tòa nhà kép “Trùng thiềm điệp ốc”. Nhà trước 7 gian với 8 bộ “vì kèo chồng rường giả thủ”. Nhà sau 5 gian với 6 bộ “vì kèo cánh ác”. Điều khác biệt với các ngôi điện khác là những chi tiết gỗ không sơn son thếp vàng, chỉ để mộc trơn và được tô điểm bằng các kỹ thuật chạm trổ tinh xảo theo đồ án “lưỡng long triều nguyệt”, “long, lân, quy, phượng”. Các liên ba, đồ bản chạm khắc nhiều bài thơ là trước tác của vua Thiệu Trị, được bố trí sắp xếp hầu hết ở các khu vực bên trong ngôi điện một cách hài hòa.

Điện Long An nay được sử dụng thành Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế



Sân trước điện Long An

Bộ sưu tập súng thần công



Ngày nay điện là nơi trưng bày các di vật triều Nguyễn

Nghệ thuật kiến trúc điện là sự kết hợp giữa kiến trúc vừa chịu lực vừa trang trí. Các bộ vì kèo ở tiền điện không được thiết kế theo lối truyền thống “chồng rường giả thủ” mà bằng nghệ thuật chạm lộng các nghệ nhân xưa đã chạm nên đồ án lưỡng long tranh châu đồ sộ và liền khối. Vì thế mà du khách đến tham quan thường tưởng lầm đây là những đồ án trang trí chứ không phải là thiết kế chịu lực.



Kiến trúc nội thất điện Long An.



Trang trí khảm – thi họa – hoa văn ở ô hộc.



Hộp sơn mài đựng thẻ chơi bài sừng ngà.

Phần trang trí trong điện lại càng đáng nói: liên kết giữa các gian tiền điện và chính điện là các ô hộc trang trí theo lối nhất thi nhất họa, và thay vì được sơn son thếp vàng thì các ô hộc này lại được khảm trực tiếp bằng xương, ngà voi, xà cừ… Những bài thơ này phần lớn là của chủ nhân ngôi điện sáng tác. Trong số 623 ô hộc đó thì có hai tác phẩm rất đặc biệt và cho đến nay vẫn chưa được giải đáp, đó là bài Vũ trung sơn thủy và Phước viên văn hội lương dạ mạn ngâm, tuy mỗi bài chỉ có 56 chữ nhưng khi xếp theo lối hồi văn kiêm liên hoàn thì sẽ tạo thành 64 bài thơ khác nhau.



Bình gốm hoa văn cổ.



Trấn phong làm bằng bạc.



Bộ lá ngọc cành vàng.



Nậm rượu men lam và khay hộp pháp lam



Lư đồng khảm vàng bạc và bát men hoa lam.



Lư xông trầm.

Ngày nay điện là bảo tàng mỷ thuật cung đình Huế, nơi trưng bày bộ sưu tập khổng lồ về các di vật cũng như các tác phẩm nghệ thuật của triều Nguyễn và các nước. Đến thăm quan điện ta sẽ cảm nhận được cái vàng son của hoàng cung xưa.

Hiện nay điện đang được trùng tu, mong sau điện sẽ được trả lại chức năng vốn có của mình là nơi thờ tự và lưu giữ các kỹ vật của chủ nhân nó – Vua Thiệu Trị

Kỳ Đài Huế

Du Lịch Huế - Kỳ đài nằm ở chính giữa mặt trước kinh thành, được kiến trúc tương đối lớn, gồm hai phần: đài cờ và cột cờ. Đài xây bằng gạch, gồm 3 tầng như 3 hình tháp cụt xếp chồng lên nhau với tổng chiều cao là 17,5m. Đài được xây vào năm 1807. Trên mặt đài, trước đây có hai điểm canh và 4 pháo xưởng để bố trí 4 khẩu đại bác.

Chung quanh mỗi tầng đều có xây lan can, mặt nền của các tầng đài đều lát gạch Bát Tràng. Lối đi từ tầng dưới lên tầng trên cùng trổ ở mặt bắc. ở tầng trên cùng, xưa có hai điếm canh và pháo xưởng để bố trí các khẩu đại bác. Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm 2 tầng, cao gần 30m. Năm Thiệu Trị 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài suốt hơn 32m. Đến năm Thành Thái 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn thổi gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê-tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m hiện thấy mới được xây dựng.



Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển.

Cùng với những bước thăng trầm của Huế, Kỳ Đài là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Ngày 23/8/1945, lần đầu tiên lá cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tung bay phất phới trên đỉnh Kỳ Đài, báo hiệu sự chấm dứt của chế độ quân chủ. Kỳ Đài không chỉ là vị trí trung tâm của Thành phố Huế mà còn là một biểu tượng của mảnh đất Cố đô.

Thursday, April 30, 2015

Tả Vu - Hữu Vu

Du Lịch Huế - Tả Vu và Hữu Vu là hai công trình phối thuộc của Điện Cần Chánh trong Tử Cấm Thành của Kinh thành Huế.



Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc. Tả Vu và Hữu Vu đều được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Hữu Vu được trùng tu vào năm 1977, và Tả Vu vào các năm 1986, 1987-1988.



Hữu vu trong điện Cần Chánh ngày xưa

Tuesday, April 28, 2015

Huyền Không Sơn Thượng chốn thanh tao

Du Lịch Huế - Huyền Không Sơn Thượng không phải một ngôi chùa lớn hoành tráng ở Huế - đất cố đô với bao đền đài thành quách. Thế nhưng, bất cứ ai khi đặt chân lên con đường dẫn đến chùa, bước vào khuôn viên, tham quan một vòng ngôi chùa độc đáo rồi dừng chân bên thạch bàn, nhâm nhi ly trà ướp sen tại thư đình yên tĩnh, sẽ có chung cảm giác thanh thản đến lạ kỳ.



Không gian chùa Huyền Không Sơn Thượng

Không như những ngôi chùa u tịch thâm nghiêm ở miền Bắc, cũng không giống những ngôi chùa đồ sộ sặc sỡ với những gam màu vàng đỏ và kiến trúc Kh’mer độc đáo ở phía Nam… Huyền Không Sơn Thượng đặc biệt ở chỗ chùa khác biệt ngay cả với những ngôi chùa cùng toạ lạc nơi chốn cố đô di sản này.
Con đường dẫn lên chùa bắt đầu từ dưới chân núi Chằm cao hơn 300m so với mực nước biển. Hai bên con đường nhỏ ngoằn ngoèo bắt vào sườn núi là một rừng thông xanh mướt. Phía cuối của con đường thơ tịch ấy, thung lũng mở ra “Tả thanh long” là một triền đồi thoai thoải, “Hữu bạch hổ” là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối mọc um tùm. Hướng Tây Nam có một mỏm núi với một cây cổ thụ lớn mọc cheo leo trên vách đá gọi là “Độc thụ sơn”. Ở trung tâm của thung lũng, vẻ đẹp hoang sơ đến mê hồn của ngôi chùa tạo cảm giác thân thuộc mà bí ẩn, u tịch mà thanh tao. Không gian thiên nhiên được bàn tay con người chăm chút đã khiến hoang sơ trở nên gần gũi. Từ cổng chùa đến các khuôn viên, nhiều loài hoa và thảo mộc quý được các nhà sư đưa về trồng tỏa hương phảng phất. Những hồ nước xanh ngắt với giả sơn quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy hoa súng, hoa sen dẫn đưa du khách bước vào Thanh Tâm viên, khu sân vườn trước toà Phật Điện.

Và điều đặc biệt làm nên nét riêng thanh tao mà cao quý của chốn tịnh tâm này không phải là những con đường, những khu rừng hay những giò hoa. Không gian tao nhã của Huyền Không Sơn Thượng được khắc họa trong những vần thơ, câu phú với những triết lý sâu xa của đạo Phật, đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, những cảm xúc bất chợt của các thi nhân đã từng đến nơi đây và để lại dấu bút của mình trên đá, trên những thân cây, trên những thạch bàn… Những bài thơ, những điều răn dạy của đạo Phật cứ hoà lẫn với thiên nhiên trong một không gian yên tĩnh, trầm mặc và quyến rũ. Chính những điều này đã tạo nên một Huyền Không Sơn Thượng u tịch mà thanh tao, nhẹ nhàng mà lại vô cùng sâu lắng, khiến cho bất cứ ai tới nơi đây cũng phải lắng mình để rồi suy ngẫm, nhìn nhận lại chính bản thân.
Đến với Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, du khách sẽ được trải lòng mình ra với thiên nhiên, để một phút sống thật với chính mình, để có dịp quên đi những bộn bề lo toan trong thời buổi “cơm áo gạo tiền”, để lắng mình trong những cảm xúc không dễ gì bắt gặp nơi ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành.

* Du khách đến Huế có thể thuê xe máy rồi theo con đường ven sông Hương ngược về thượng nguồn, qua chùa Thiên Mụ chừng 7km là đến Huyền Không Sơn Thượng, thôn Nham Biền, Hương Trà, ngoại vi thành phố Huế. Đây là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông, hậu thân của chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc xưa.

Theo Vũ Thanh

Ngắm Kinh thành Huế cổ được UNESCO vinh danh

Du Lịch Huế - Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Đây là nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn từ năm 1805 đến năm 1945.

Thành có diện tích hơn 500 ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. 4 hướng đông, tây, nam bắc của thành lần lượt giáp các giáp các đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn, Tăng Bạt Hổ và Phan Đăng Lưu.





Các di tích trong Kinh thành gồm Kỳ Đài, Trường Quốc Tử Giám, điện Long An, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm, Viện Cơ Mật - Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu vị thần công.

Hiện, Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới và cũng là di tích nổi bật nhất.

Nghề hái lá ở Dạ Lê

Du Lịch Huế - Đầu buổi sáng những ngày nắng ráo, trên Quốc lộ 1A nhộn nhịp người xe qua lại thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ nhọc nhằn xe đạp chở theo nào chổi rành, chổi đót và nhiều loại lá đã được phơi khô đi về thành phố. Lặng lẽ một nét văn hoá quá đỗi thân thuộc của người làng Dạ Lê (Thuỷ Phương-Hương Thuỷ).



Bà Chanh ngồi bó lá bướm bạc

Vùng gò đồi của Hương Thuỷ có nhiều loại lá bốn mùa xanh tươi có thể thu hái, phơi khô để nấu nước uống tốt cho sức khoẻ đã được nhiều thế hệ biết đến, tin dùng. Với kinh nghiệm “xưa bày nay làm”, các loại lá ấy đã được người làng hái về, sơ chế để thành một loại nước thơm ngon, giải nhiệt cho người bình thường và dùng cho phụ nữ trong thời ở cữ. Không riêng người dân Thuỷ Phương biết lên đồi hái lá uống bởi hầu hết người dân ở các vùng gò đồi đều rất quen với công việc này. Tuy nhiên, nói đến chuyện hái lá để bán, phục vụ người có nhu cầu xa gần thì đích thị chỉ có người Dạ Lê của Thuỷ Phương.
Dân gian đã quen “Dạ Lê than, củi, chủi, lá...” là để nói đến những công việc mà người dân của Thuỷ Phương, trong đó chiếm phần nhiều là người làng Dạ Lê, lên đồi, lên rừng kiếm củi, kiếm than, kiếm chổi, lá... để thêm thu nhập trong ngày nông nhàn. Lá gì có lợi cho sức khoẻ đều được bà con tận dụng hết. Như mắm nêm, nhân trần, chó đẻ, bướm bạc, hà thủ ô, bò bò, choài choại, ngấy… Những loại cây này phát triển tự nhiên như lộc trời cho người làng. Theo anh Trương Công Nghĩa, Chủ tịch UBND phường Thuỷ Phương, chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng số người làng làm nghề hái lá cũng tương đối nhiều, góp phần tạo thu nhập đáng kể cho bà con.

Những năm trở lại đây, càng ngày càng có nhiều người chuộng nước lá tự nhiên nên nghề hái là của người làng cũng cứ thế đều đều tiến. Thời gian đầu là đồi gần, sau rồi đồi xa. Nay, để một ngày có được một gánh “hòm hòm” đem về cũng đã vất vả lắm. Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoa để nghe chuyện hái lá của người làng. Ông Hoa đi kiếm lá từ sáng sớm, nhà chỉ còn người vợ là Nguyễn Thị Chanh đang bận rộn với công việc bó lá.

Bà Chanh làm quen với nghề hái lá từ ngày theo chồng. Bố mẹ chồng bà đã làm nghề này từ lâu “Làm cũng đều nhưng không năng vì còn làm ruộng. Sau ni già rồi, ruộng cũng ít lại thì mới làm nhiều. Tính ra, một ngày cũng được khoảng 200 ngàn tiền lá. Nhưng trừ tiền xăng xe đi lại, ăn uống, thời gian phơi, ra bó, mua lạt buộc... còn lại không mấy. Đủ 2 vợ chồng nuôi nhau”, bà Chanh nói. Ngày trước còn khoẻ, vợ chồng bà Chanh thường đi hái lá theo chuyến, mỗi chuyến 15-20 ngày, đầy một xe Huyn-dai là về. Vì “làm ăn lớn” như thế nên có khi ăn dầm ở dề trên vùng núi của Hương Trà, Phong Điền “no lá” mới về. Gặp vùng nhiều lá, còn kết hội 5-7 người trong xóm đi cùng.

Theo bà Chanh, nghề theo lá không sợ nhọc nhằn, chỉ ngại mỗi việc phải nghỉ đông. Trong năm, thuận tiện cho làm nghề nhất là từ giêng hai đến độ tháng 7. Qua tháng 8, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu chớm đến, người làng đã bắt đầu lo lắng chuyện chợ không thông, lá lâu khô, rồi lại ảnh hưởng đến thu nhập. Vào mùa cao điểm, nhà một người hái lá, một người phơi, bó thì không kịp cho bạn hàng lấy. Bạn hàng gom hàng rồi tủa đi khắp nơi. Ai có điều kiện thì ngồi chợ, không thì bán dạo quanh phố.

Chúng tôi rời nhà bà Chanh khi nắng đầu ngày đã qua khỏi ngọn tre đầu ngõ. Như để trấn an khách lạ, bà nhắn thêm: “Mình nhờ lá mà làm được nghề nên không tham được mô. Vì tham mà độn lá lung tung là không bền, hại người rồi còn hại cả mình nữa”. Hy vọng, nghề hái lá của người làng Dạ Lê bền mãi như một nét đẹp văn hoá của vùng quê nông thôn này.

Theo Đồng Văn

Monday, April 27, 2015

Những phát hiện khảo cổ 2012: Đài thiên văn cổ

Du Lịch Huế - Quan Tượng đài có tông màu xám của gạch Bát Tràng nung già, sắc vàng sắc xanh của ngói lưu ly. Đó là một phần kết quả khai quật khảo cổ tháng 5.2012 của Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế.

“Có thể khẳng định đến thời điểm này, Quan Tượng đài là đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam”, ông Trịnh Nam Hải - người phụ trách khai quật khảo cổ tại di tích này, cho biết. Do đó, ngoài ý nghĩa giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học…, Quan Tượng đài còn có giá trị về mặt kiến trúc trong tổng thể kinh thành Huế. Đúng như tên gọi, Quan Tượng đài có nghĩa là đài cao dùng để quan sát, theo dõi diễn biến thời tiết, khí hậu, các hiện tượng thiên nhiên khác hay còn gọi là đài thiên văn của triều Nguyễn.

Sử chép, triều Nguyễn cho xây dựng Quan Tượng đài để cơ quan chuyên theo dõi thiên văn, dự báo thời tiết, làm lịch, xem ngày lành tháng tốt là Khâm Thiên giám sử dụng. Những thông tin từ Quan Tượng đài này được chuyển về Khâm Thiên giám xử lý kết quả dự báo thời tiết, làm lịch… Điều này chứng minh sự quan tâm của triều đình nhà Nguyễn đối với đời sống xã hội, cuộc sống nhân dân lúc bấy giờ. Đến đầu thế kỷ 20, nhiệm vụ Quan Tượng đài không còn được phát huy nữa, nhưng bản thân di tích này vẫn mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa.


Quan Tượng đài, ảnh chụp năm 1949 - Ảnh: Do nhóm nghiên cứu cung cấp

Ý nghĩa là vậy, song Quan Tượng đài qua tư liệu ảnh chỉ còn mang hai sắc đen trắng. Nguồn tư liệu chính sử ghi chép về lịch sử xây dựng các hạng mục kiến trúc di tích, những lần tu bổ cũng rất chung chung. Trong khi tư liệu thiếu thì sự tàn phá của chiến tranh, khí hậu thiên tai, của con người đã biến di tích thành phế tích hoang tàn. Theo báo cáo khai quật, toàn bộ các hạng mục kiến trúc trên mặt đất gần như bị hủy hoại toàn bộ, phần dưới mặt đất cũng bị xáo trộn.

Nền cũ Bát Tràng

Theo các nhà khoa học, nền gốc của di tích đã bị xáo trộn sau thời gian dài phục vụ cho các mục đích khác nhau. Vì thế, đảm bảo việc giữ lại những mảng gạch Bát Tràng (nền gốc của di tích) họ phải bóc tách toàn bộ nền đền đài xuống khoảng 20 - 30 cm. Một số mảng bị dập vỡ do đạn pháo năm 1968. Điều dễ nhận thấy nhất là nền đài được gia cố khá chắc chắn bằng nhiều lớp đất dầm chặt. Tuy nhiên, khi lát gạch Bát Tràng, người ta vẫn lót thêm phía dưới một lớp vữa dày. Gạch Bát Tràng ở đây có màu xám đen, độ nung cao. “Đây có lẽ chính là nguyên nhân khiến nền gạch nung gần như sành này bị tháo dỡ. Theo người dân quanh di tích, những năm 80 thế kỷ trước, một số người đã gỡ loại gạch này về nấu thủy tinh thủ công”, ông Trịnh Nam Hải - người phụ trách khai quật, phỏng đoán.

Đình Bát Phong - nơi làm việc của nhân viên quan sát thiên văn có cấu trúc hình bát giác. Về cơ bản, móng của công trình này còn nguyên vẹn. Sự khác biệt rõ nét nhất của hệ thống các chân đá tảng ở đây so với các di tích khác ở Huế là ngoài việc khoét lỗ chân cột, người ta còn xẻ rãnh. Những rãnh này được phỏng đoán có tác dụng giúp bảo vệ hệ thống khung gỗ và mái ngói trước thời tiết khắc nghiệt.

Kết quả khai quật cho thấy hệ thống lỗ thoát nước dưới hệ thống lan can, xung quanh ba mặt tường của đài. Tuy nhiên, do cao hơn nền sân từ 12 - 14 cm, nếu có mưa lớn hệ thống thoát nước mặt này sẽ không giúp thoát nước nền đài. “Vấn đề đặt ra là nước trên nền đài sẽ thoát đi đâu khi có mưa lớn? Quan sát cho thấy nền đài xuôi dần về hướng đông bắc - hướng đường dẫn lên xuống. Vì thế, khi mưa lớn, nước mưa sẽ chảy theo hướng này”, ông Hải cho biết.

Toàn bộ hệ thống lan can (tường bao quanh nền đài), cũng như lan can bậc cấp, đường dẫn lên xuống đài bị tháo dỡ toàn bộ. Tư liệu ảnh cho thấy hệ thống lan can xây kín khá đơn giản.

Món quà may mắn với các nhà khảo cổ là đường dẫn tới di tích đã xuất lộ trong điều kiện tốt nhất có thể. Toàn bộ hệ thống được sử dụng đá gan gà và được xếp ngay ngắn, hoàn toàn không dùng vữa liên kết. Một điều khá lý thú trên rất nhiều viên đá bậc cấp có ghi những ký tự Hán Nôm. Tổng số bậc cấp đếm được là 51, mỗi bậc cấp rộng 75 - 80 cm, cách nhau 10 cm.

Kiến nghị phục hồi

Theo các nhà khảo cổ, sau khi Khâm Thiên giám chuyển chỗ năm 1918, Quan Tượng đài chỉ còn là nhân chứng lịch sử. Tư liệu lịch sử cho biết khoảng giữa năm 1914, Quan Tượng đài và đình Bát Phong vẫn còn nguyên vẹn. Những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Pháp L.Cadière vẫn miêu tả rõ công trình kiến trúc này hoàn chỉnh và ở mặt trước của đài còn gắn tấm biển đúc vôi vữa đề tên. Năm 1949, ảnh tư liệu hiện lưu giữ tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế cho thấy kiến trúc Quan Tượng đài vẫn còn khá tốt. Tuy nhiên, hiện trạng trước khai quật năm 2012 của di tích này rất đáng lo ngại.

Hệ thống bậc cấp bị cỏ dại và đất đá bao phủ, có chỗ dày tới 60 - 70 cm. Thông tin cho biết thậm chí bậc cấp còn được dùng làm điểm đỗ xe trong một thời gian dài. Vô số các phế thải, nhất là kim tiêm của các đối tượng nghiện cũng xuất hiện tại đây. Lan can bậc cấp bị tháo dỡ, chỉ còn lại duy nhất đoạn ngắn dài 4,83 m. Hai bên lề của bậc cấp nhiều đoạn bị đạn pháo làm hư hỏng nặng.

Chính vì thế, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế kiến nghị có kế hoạch bảo tồn kết quả khai quật, đồng thời triển khai ngay việc lập dự án phục hồi tu bổ Quan Tượng đài.

Các nhà khoa học cũng kiến nghị tôn trọng việc phục hồi nguyên gốc các hạng mục kiến trúc như đình Bát Phong, nền gạch Bát Tràng, hệ thống bậc cấp tường lan can, màu sắc… Đồng thời, đơn vị khai quật cũng đề nghị có kế hoạch giải tỏa ngay 2 hộ gia đình lấn chiếm di tích để đảm bảo cho việc phục hồi di tích thuận tiện. Mới đây, đầu tháng 11, việc trùng tu đã bắt đầu được thực hiện dựa trên những phát hiện khảo cổ này.

Theo Trinh Nguyễn

Những ngôi giáo đường đẹp ở Huế - P1

Du Lịch Huế - Là một tôn giáo có số giáo dân đông vào hàng thứ 2 (sau Phật giáo) ở Thừa Thiên Huế, Thiên chúa Giáo có lịch sử du nhập và phát triển ở Ðàng Trong khá sớm. Từ thế kỷ XVII các chúa Nguyễn ở Đàng Trong cho phép các tàu buôn của Pháp, Hà Lan, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha... vào làm ăn và cùng đi là có các giáo sĩ truyền đạo. Hiện nay, ở Thừa Thiên Huế có 45 giáo xứ với hơn 90 nhà thờ lớn nhỏ khác nhau.
Gần trung tâm Huế có 2 ngôi giáo đường lớn được xây dựng vào những năm đầu thập niên 60 là nhà thờ Phủ Cam (Phường Phước Vĩnh) và nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp (đường Nguyễn Huệ - Phường Phú Nhuận). Ðó là 2 giáo đường tiêu biểu cho lối kiến trúc roman - gothique của Thiên chúa giáo Huế.



Nhà thờ Phủ Cam
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam


Chính diện nhà thờ Phủ Cam
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc trên đồi Phước Quả, thuộc địa phận phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Nơi đây năm 1682, linh mục Langlois cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre tại xóm Đá, sát bờ sông An Cựu. Sau đó hai năm, linh mục đã cho triệt giải nhà nguyện và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng một nhà thờ to lớn hơn và kiên cố bằng đá, quay mặt về hướng Tây. Nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1698, ngôi nhà thờ ấy bị triệt giải hoàn toàn. Hai thế kỷ sau, vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys đã cho xây mới Nhà thờ Phủ Cam bằng gạch, mái lợp ngói khá đồ sộ ở vị trí cũ nhưng mặt quay về hướng Bắc, hoàn thành vào năm 1902.

Nhà thờ Phủ Cam xưa

Toàn cảnh nhìn từ xa của nhà thờ Phủ Cam hiện nay
Đến năm 1960, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận, Tổng giám mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục đã cho phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất Nhà thờ chính tòa mới được xây theo lối kiến trúc hiện đại, người thiết kế là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người đã đoạt giải kiến trúc Khôi nguyên La Mã, tác giả của nhiều công trình kiến trúc đẹp mà nổi tiếng như Viện nguyên tử Đà Lạt, Viện Đại Học Huế, dinh Độc Lập Sài Gòn ... Công trình đang thi công thì họ Ngô sụp đổ, và bắt đầu từ đó việc xây dựng cũng bị ngắt đoạn. Sau 36 năm tháp chuông nhà thờ xây dang dở, đến ngày 1 tháng 5 năm 1999, hai tháp chuông, mỗi tháp bảy tầng cao 43,5 mét được xây dựng trở lại. Ngày 29 tháng 6 năm 2000 kiến trúc nhà thờ Phủ Cam hoàn chỉnh được khánh thành, xứng đáng là nhà thờ chánh toà, một ngôi thánh đường rộng lớn ở Việt Nam.





Nhìn tổng thể, Nhà thờ Phủ Cam hài hoà với cảnh quan xung quanh ở lưng chừng đồi, có khuôn viên rộng với sân nhà thờ nổi bật tượng chúa Jesus nhân hoà. Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá, đầu hướng về phía Nam đuôi hướng Bắc. Đỉnh nhà thờ Phủ Cam vươn thẳng lên trời nhưng trông vẫn thanh thoát nhẹ nhàng, vừa mang tính nghệ thuật và tôn giáo.

Đỉnh nhà thờ vươn cao vút lên trời
Phía trước nhà thờ Chính toà Phủ Cam có hai tượng đúc: bên phải là thánh Phêrô, bên trái thánh Phaolô cũng là những bổn mạng của giáo xứ Phủ Cam do nghệ nhân Đinh Văn Lương ở Sài Gòn thực hiện.


Đặc biệt mặt tiền nhà thờ có một hệ thống cửa chính và phụ được thiết kế theo kiểu kiến trúc “Ngọ Môn” ở Hoàng thành Huế với 5 cửa: 3 cửa thẳng - 2 cửa quanh, hai bên có 10 cửa phụ cho người ra vào.
Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên bên trong lòng nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất.



Trong thánh đường, khung trần có hình vòm cung cao 21,5 mét với các trụ đỡ sát tường chạy cong dần lên một cách mềm mại như bàn tay chắp lại của con chiên những lúc nguyện cầu. Có thể hình dung như một lòng tàu Noah mới mà thánh đường như lòng tàu mở ra, sẵn sàng chuyên chở con chiên, giúp họ vượt qua cuộc đời bằng phép rửa tội, với trái tim mến mộ Đức Chúa của mình.



Ở nơi trang trọng của thánh đường có bàn thờ bằng đá cẩm thạch đặt trên một viên đàn có 3 cấp tượng trưng cho tam tài thiên địa nhân. Từ nơi đó, đức Cha hướng về người hành lễ để giảng thánh kinh Thiên Chúa. Phía trang nghiêm trên cao là cây thông làm thập giá có tượng Chúa Cứu thế đóng đinh, bên trên là bức hoạ Đức Chúa Jesus dang tay ra trong buổi tiệc ly với dòng chữ "Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời".



Nhà thờ Phủ Cam là nơi cử hành những thánh lễ quan trọng nhất của tổng giáo phận Huế nên được gọi là nhà thờ chánh toà.

Nguyễn Văn Liêm