Thursday, November 3, 2016

Đồ Chơi Trẻ Em Siêu Nhân Nhật Bản

Đồ Chơi Trẻ Em Siêu Nhân Nhật Bản - Kids VN Giới Thiệu Đồ Chơi 5 Anh Em Siêu Nhân Mới!
- Bộ đồ chơi 5 anh em siêu nhân gồm phần chính là 5 anh em siêu nhân, được sản xuất tại nhật bản, bộ đồ chơi này được làm bằng nhựa cứng tạo nên cảm giác khoẻ và chắc chắn cho các em nhỏ! bộ đồ chơi trẻ em 5 anh em siêu nhân này hôm có siêu nhân đỏ, siêu nhân xanh, siêu nhân đen, siêu nhân trắng và siêu nhân bạc! mỗi nhân vật đều thể hiện được hình giáng và đường nét cũng như cá tính riêng! các em hãy cùng kênh Kids VN khám phá bộ đồ chơi siêu nhân này nhé!


- Hãy Đăng Ký Kênh, Bấm Thích Video và chia sẽ để ủng hộ kênh đồ chơi trẻ em của mình nhé các bạn!
Đăng Ký Kênh Tại Đây Nhé: https://www.youtube.com/watch?v=WDdKzhRvGys

Wednesday, November 2, 2016

Christmas Toys 2016 For Kids

Christmas Toys 2016 For Kids Spiderman Review Captain America Toys Kids VN

Christmas is a holiday of the year, is the big day, because we have such a family occasion in which our children pick up this great holidays by creating videos and toys Interestingly, in particular in this video, channel VN Kids like to introduce you to the toy superheroes Spiderman toys introduce marvel superhero Captain America! I would like to believe that this toy! Please subscribe to the channel, click like and share the video Christmas Toys 2016
https://www.youtube.com/watch?v=lIoWXCSP15Q

Tuesday, June 9, 2015

Chợ Đông Ba

Chợ Đông Ba dưới thời vua Gia Long tọa lạc ở bên ngoài cửa Chánh Đông (cửa Đông Ba). Sau biến cố kinh thành Huế 1885 chợ bị thực dân Pháp triệt hạ. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây dựng lại lấy tên là Đông Ba. Năm 1899, vua Thành Thái cho dời chợ Đông Ba về vị trí hiện nay.

Trải qua thời gian chợ Đông Ba đã nhiều lần tu sửa với diện tích 47.614m2 từ cầu Gia Hội đến cầu Trường Tiền, một mặt là sông Hương, một mặt là phố chính Trần Hưng Đạo, chợ Đông Ba có kiến trúc ba lầu vuông vức với hàng ngàn lô hàng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá của nhân dân.


Ngoài vị trí là một trung tâm thương mại lớn của Tỉnh, với lịch sử hơn 100 xây dựng và phát triển chợ Đông Ba còn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay từ khi mới thành lập tầng lớp tiểu thương chợ Đông Ba đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính, ủng hộ hoạt động của các nhà yêu nước. Ngày 17 tháng 6 năm 1954, trên 400 tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia đoàn biểu tình hơn hai vạn người dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Huế, ủng hộ quan điểm của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Cuộc mittin đã thắng lợi gây tiếng vang lớn trong cả nước, từ 1954 đến 1975 lực lượng tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia, tổ chức 255 cuộc biểu tình, xuống đường, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai... Trong cuộc đấu tranh đó, nhiều tiểu thương đã trưởng thành và trở thành những cán bộ kiên cường của cách mạng, nhiều chị là cơ sở bí mật, nuôi giấu cán bộ, nhiều chị đã anh dũng hy sinh trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, mặc dù bị giam cầm, tra tấn tù đày nhưng chị em tiểu thương chợ Đông Ba vẫn trung kiên một lòng theo cách mạng, theo Bác Hồ.

Những đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba tô điểm thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc. Ghi nhận những thành tích công lao đó, năm 1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao tặng chị em tiểu thương các chợ thành phố Huế nói chung, trong đó có sự đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba phần thưởng cao quý Huân chương kháng chiến hạng nhất. Nối tiếp truyền thống đó giờ đây chợ Đông Ba vẫn xứng đáng là trung tâm thương mại của Tỉnh, tham gia tích cực các hoạt động đền ơn đáp nghĩa...

Chín dãy nhà xung quanh là khu trung tâm chợ với những gian hàng tiêu dùng treo lũng lẵng đầy ăm ắp những sản phẩm rực rỡ sắc màu phục vụ đầy đủ những yêu cầu thiết thực của cuộc sống người dân.Ngoài ra chợ cũng có những gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ ,những sản phẩm lưu niệm dành cho khách du lịch như nón bài thơ Phú Cam, tranh lụa, áo quần in thắng cảnh Huế, đồ kim hoàn Kế Môn,dao kéo Hiền Lươnghay những sản phẩm thủ công khác….Du khách dễ dàng tìm cho mình những món quà lưu niệm tặng cho người thân ở tầng trệt hay lầu một của chợ với giá cả phải chăng, đặc biệt là bạn sẽ hài lòng với thái độ phục vụ lịch sự,nhẹ nhàng của những tiểu thương thành Huế.

Đến gian hàng thực phẩm của chợ tôi bảo đảm bạn sẽ bị hoa mắt ,chảy nước miếng bởi quá nhiều sản vật thơm ngon được bày bán ở đây. Những tinh tuý ẩm thực của Thừa Thiên Huế còn giữ được cho đến nay đều có thể tìm thấy ở khu này của ngôi chợ cổ Đông Ba : mè xửng Song Hỷ, dâu Truồi, chè Tuần, thanh trà Lại Bằng, sen khô hồ Tịnh.

Đến khu dịch vụ ăn uống bạn sẽ tha hồ thưởng thức các món đặc sản truyền thống bình dân do chính người gốc Huế chế biến với giá cả rất rẻ như như: cơm hến, bún bò, bánh lá, chả tôm, bánh khoái, chè đậu ván ... Nếu chưa no nê bạn hãy ghé qua khu thực phẩm tươi sống như rau củ, tôm cá.Những gian hàng rau cũ tươi xanh mơn mỡn còn đọng sương đêm được các tiểu thương lấy từ các vùng ngoại ô lân cận phục vụ cho người dân nội thành.Các loài thủy hải sản tươi ngon đầy ăm ắp cũng được lấy từ các vùng biển không xa kinh thành Huế như Thuận An, Phú Lộc.. .Người dân Huế thường rất tự hào vì được dùng những thức ăn tươi ngon và khá đảm bảo về an tòan vệ sinh.

Chợ Đông Ba nổi tiếng bởi sự cổ kính và sầm uất. Là nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm đẹp đẽ của mỗi một người dân Huế.Là ấn tượng khó phai đối với những du khách thập phương một lần đến đây. Cùng với cầu Trường Tiền, sông Hương ,chợ Đông Ba là biểu tượng của xứ Huế thơ mộng.

Friday, May 8, 2015

Điện Phụng Tiên

Điện Phụng Tiên (chữ Hán 奉先殿, điện nơi thờ phụng người trước) là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Ngôi miếu dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế.

Lịch sử

Thời gian xây dựng của điện là không rõ, chỉ biết là nó đã được xây dựng khi vua Gia Long vẫn còn sống. Khi đó nó là một ngôi điện bằng gỗ có tên là Hoàng Nhân, vị trí gần cửa Hiển Nhân (ngày nay là Đại học Nghệ thuật Huế). Khi Gia Long mất, quan tài của ông đã được quàn tại đây 3 tháng trước khi được an táng ở lăng Gia Long. Điện Hoàng Nhân là nơi thờ cúng Gia Long kể từ năm 1820.

Năm 1829, vua Minh Mạng cho đổi tên điện Hoàng Nhân thành điện Phụng Tiên. Và đến năm 1837, ông cho dời điện từ vị trí gần cửa Hiển Nhân đến vị trí ngày nay, gần cửa Chương Đức.

Mặc dù về sau, triều đình nhà Nguyễn có xây Thế Miếu với cùng một chức năng là thờ cúng Gia Long và các vị vua kế vị nhưng điện Phụng Tiên vẫn được duy trì để thờ các vua ấy, vì một lý do đặc biệt: theo quy định của Triều đình, Thế Miếu là "công miếu", các cuộc tế lễ ở đây đều là những buổi lễ có tính chất quốc gia với sự hiện diện của vua, hoàng thân và đình thần; tuyệt đối cấm nữ giới cho dù họ có là người trong Hoàng gia, nhưng họ có thể tới điện Phụng Tiên để thực hiện việc thờ tự.

Điện cũng là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhà Nguyễn, nhưng đến tháng 2 năm 1947, toàn bộ đã bị thất thoát cũng như đốt cháy theo điện. Hiện giờ chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.
Kiến trúc


Nội thất điện Phụng Thiên vào năm 1930

Điện Phụng tiên là một tòa nhà kép to lớn, to ngang Thế Miếu nhưng có thêm mái lưa ở phía trước. Phần chính doanh có 9 gian 2 chái, mỗi gian thờ một vua; phần tiền doanh có 11 gian. Mái điện được lợp ngói ống hoàng lưu ly cùng với ngói câu đầu trích thủy; phần nền thì được lát bằng gạch Bát Tràng tráng men. Sân trước điện khá rộng cũng được lát bằng gạch Bát Tràng. Sát hiên trước có một hàng chậu sứ trồng cây cảnh được đặt trên các đôn bằng đá chạm. Cuối sân có một bể cạn lớn làm bằng đá, bên trong có một hòn non bộ, xây bằng đá tựa vào một bức bình phong giăng dài phía sau cửa tam quan. Ở giữa mặt trước khuôn viên có vòng thành bao quanh.


Nơi điện Phụng Tiên ngày xưa tọa lạc
Hoạt động

Khi còn hoạt động với chức năng thờ tự của mình, điện Phụng Tiên là một đền thờ nguy nga lộng lẫy với rất nhiều đồ tự khi mà khi sinh thời các vua Nguyễn đã dùng. Một người Pháp tên Robert R. de la Susse đã gọi điện Phụng Tiên là một bảo tàng ở Hoàng cung Huế, qua lời mô tả của Susse, năm 1913 điện trông như một bảo tàng với việc năm 1911 hầu hết các bảo vật của các Vua và Hoàng hậu đều được thống kê và đưa vào tủ kính để ở đầu điện. Đồ được đặt trong tủ có rất nhiều loại: các khẩu súng hỏa mai nguyên do Pháp chế tạo của vua Tự Đức, các đồ đồng do người Việt đúc ở thời Minh Mạng, các loại đồ đồng tráng men, bộ sưu tập tiền đồng, các bảo vật của các đời vua và các chậu lung với cây cỏ, canh san hô được làm bằng vàng và ngọc, cùng với các đồ dùng của vua Tự Đức.. Trong số đó bảo vật đặc biệt nhất là hai bộ đồ thờ "tam sự" bằng ngọc bích, hai đĩa lớn đường kính 40cm; hai bức trấn phong bằng ngọc thạch nguyên bản. Ngoài ra điện còn lưu trữ các bảo ấn, các kim sách, vương miện, đồ uống trà làm bằng vàng nguyên chất.

Về việc chăm sóc hương khói, như trong phần lịch sử có nói về sự phân biệt nam nữ trong thờ cúng ở Điện Phụng Tiên và Thế Miếu . Điện Phụng Tiên do "các cô phụng trực", với đa số là thành viên của Hoàng tộc góa bụa hoặc không lấy chồng ăn ở trong các ngôi nhà phụ trong khuôn viện điện cho đến trọng đời, đảm nhiệm (còn Thế Miếu là do Ty Từ Tế phụ trách).

Wednesday, May 6, 2015

'Độc đáo' cảnh quan trên đỉnh Bạch Mã

139 biệt thự nghỉ mát được người Pháp xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ 20 để nghỉ mát tọa lạc trên độ cao từ 1.000 đến 1.400m tại Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) đến nay cái còn cái mất song vẫn mang lại nét cổ kính, độc đáo cho cảnh quan nơi này.

Theo tài liệu ghi lại, sở dĩ có việc lập ra quần thể kiến trúc này vì người Pháp muốn dùng nơi dây làm nơi nghỉ mát. Vườn Quốc gia Bạch Mã thuộc địa phận 2 huyện, huyện Phú Lộc và huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế 60km về phía Nam. Đây là nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và khí hậu rất trong lành.

Ở Bạch Mã lúc nào nhiệt độ cũng mát lạnh hơn các vùng dưới thấp từ 8 đến 10 độ. Khí hậu ở đây gần giống Ðà Lạt, Sa Pa, Tam Ðảo, nhưng do gần biển nên nhiệt độ mùa đông không bao giờ xuống dưới 4ºC và nhiệt độ cao nhất vào mùa hè ít khi vượt quá 26ºC. Khí hậu của Bạch Mã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những vùng khí hậu dễ chịu nhất của những nơi nghỉ trên vùng núi Đông Dương.

Không những có khí hậu dễ chịu, ở Bạch Mã còn có cảnh quan vô cùng đẹp với khung trời lồng lộng, những dãy núi trùng điệp, đỉnh núi nhấp nhô bắt mắt tới tận đầm Cầu Hai, cửa Tư Hiền, vụng Chân Mây sát bờ biển Ðông.

Vườn Quốc gia Bạch Mã còn giữ được hầu như nguyên vẹn những thảm thực vật phong phú và những cánh rừng nguyên sinh bát ngát...

Vào những năm từ 1916 đến 1925, Bạch Mã chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, các kế hoạch về bảo tồn và thành lập vườn quốc gia đã làm mọi người chú ý đến vùng núi này. Một kỹ sư người pháp là Girard đã tổ chức khai phá vùng núi này vào năm 1932 nhằm phát triển du lịch của Bạch Mã. Điều này dẫn đến sự tăng vọt của số lượng khu nghỉ mát ở vùng này bao gồm các biệt thự, khách sản và kéo theo đó là phát triển về giao thông công cộng.

Tuy nhiên, nhưng công trình này chủ yếu chỉ để phục vụ giới có tiền thời đó và các quan chức của Pháp.

Sau khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam kết thúc vào năm 1954, mọi người quên dần đi sự tồn tại của Bạch Mã khiến các kiến trúc xây dựng nơi đây bị bào mòn dần bởi thời gian. Phải đến năm 1960, Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập lại nhưng chiến tranh tiếp tục kéo dài liên miên khiến nó lại rơi vào quên lãng. Khu Bạch Mã được dùng làm căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trong thời gian này.

Sau khi hòa bình lập lại, Chính phủ đã có nhiều dự án phát triển trồng trọt tại khu này nhưng vẫn thất bại do điều kiện thời tiết. Với sự thành lập chính thức Vườn quốc gia Bạch Mã, năm 1991, nưi này đã dần dần được bảo tổn và phát triển phục vụ du lịch.

Hiện, những ngôi biệt thụ cổ của Pháp và những công trình như chợ, ngân hàng, bưu điện, hồ bơi, sân quần vợt... cùng hệ thống đường ô tô dài 19 km nối quốc lộ 1A với khu trung tâm của thành phố Bạch Mã một thời đang được tích cực bảo tồn, hứa hẹn trở thành một quần thể kiến trúc độc đáo có một không hai thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Tuesday, May 5, 2015

Thăm chùa Sơn Bằng

Du Lịch Huế - Ngược dòng Hương Giang đi về phía thượng nguồn, qua núi Tứ Tượng nơi có tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên cao sừng sững, là biểu tượng tâm linh oai nghiêm của Phật giáo xứ Huế, đến thôn Bằng Lãng xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, chùa Sơn Bằng hiện ra trong cỗ kính yên bình.

Sơn Bằng là một ngôi cổ tự được xây dựng từ thời xa xưa cho đến nay vẫn chưa rõ niên đại. Hiện trong chùa còn tấm biển có ba chữ “Sơn Bằng Tự” bằng chữ Hán được sơn son thếp vàng do vị quan Thất phẩm cung tiến chùa vào năm Bảo Đại thứ 9, và cũng được biết vào năm 1897 quả đại hồng chung mới được đúc với trọng lượng 195kg, đến năm 1951 thì bị thất lạc. Sau đó, vào ngày 19 tháng 6 năm 1967, đệ tử bổn tự tịnh bổn thôn thành tâm phát nguyện đúc lại đại hồng chung với trọng lượng 350kg, dưới sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nguyên Trú trì Tây Thiên Di Đà tự.

Năm 1953 trận lũ lịch sử đã nhấn chìm cả thôn Bằng Lãng, chỉ còn lại ngôi chùa chống chọi với sống lụt, bà con dân làng chạy về lánh nạn trên mái, đến khi đông người quá mái bị đỗ, thế là chùa lại một lần chứng kiến cảnh điêu linh và hư hoại theo dông bảo thời gian.

Sau trận lũ lịch sử ấy, bà con dân làng người công kẻ của chung tay nhau để xây dựng lại ngôi chùa khang trang hơn, để hằng đêm đến tụng kinh lễ bái sau một ngày mệt nhọc với công việc đồng áng nương rẫy bộn bề

Chùa được kết cấu hài hòa trong một không gian thoáng đảng, gồm tiền đường và hậu tẩm. Cách bài trí thờ tự trong chùa rất đơn giản. Giữa chánh điện thờ pho tượng Bổn sư Thích Ca độc tôn, tả hữu thờ Quan Âm và Địa Tạng. Trước tiền đường có lầu chuông trống. Hai bên thờ tượng Hộ pháp và Tiêu Diện Đại Sĩ. Hậu tẩm, ở chính giữa thờ long vị ngài khai canh khai khẩn của làng và thập nhị tôn phái, hai bên thờ quá cô hương linh tiền hậu công đức, chư hương linh ký tự nhập tự. Trước sân có tượng Quan Thế Âm lộ thiên nét mặt hiền từ tay cầm cành dương liễu đang tưới nước cam lồ mát dịu xuống miền trần gian làm xoa dịu lòng si mê và sân hận. Cổng Tam quan là 4 trụ biểu uy nghiêm có giắn biển hiệu “Sơn Bằng Tự” được viết bằng chứ Quốc ngữ sơn vàng trên nền đá màu đen trong cỗ kính.

Đường vào chùa là một lối nhỏ men theo bờ tường được trồng cau xen lẫn với những loài hoa dại, nối dài với bãi cỏ xanh vào đến tận hàng hiên. Sân chùa sắp đặt những chậu cây cảnh ngay ngắn tươm tất, được người chủ chăm sóc uốn nắn nhiều thế trong đẹp mắt. Vườn chùa chủ yếu trồng mít, thanh trà và những cây ăn trái khác. Do đất mầu mở bởi lớp bồi phù sa sau những trận lụt nên cây cối tươi tốt quanh năm, nhất là cây mít cho ra nhiều trái bổ trợ vào nguồn thức ăn của nhà chùa.

Chùa quay mặt về phía dòng sông Hương nước trong xanh mát chảy giữa đôi bờ bên bồi bên lỡ; đằng sau gối đầu với núi Tứ Tượng nối dài, tạo nên thế đứng vững bền. Theo các bô lão trong làng cho biết diện tích đất chùa trước đây vốn rất rộng, nhưng vì thế duyên nên nhiều lần bị thu hẹp. Gần hơn hết là sau trận lụt năm 1999 càn quét, trường lớp, phòng óc ở địa phương bị hư hại nặng, chùa lại một lần nữa nhượng một phần đất để xây dựng trường học nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt học tập cho con em dân làng. Hiện giờ hai bên chùa có hai ngôi trường phổ thông cơ sở của xã Thủy Bằng. Đến đây chúng ta mới thấy được sự cân đối hài hòa giữa hai mặt động, tịnh của không gian và thời gian. Một bên ồn ào náo nhiệt của các em học sinh mỗi khi trống đánh giữa giờ, một bên là vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.

Cảnh chùa yên lành thanh tịnh nằm khiêm tốn giữa làng quê; là ngôi nhà chung cho tất cả bà con dân làng về đây tụng kinh lễ bái trong muôn rằm tứ quý. Từ đó, hạt giống Phật được sinh sôi triển nở trong tâm thức của tất cả mọi người. Niềm tin và lòng khát khao tu học Phật pháp của Phật tử nơi đây ngày một tinh tiến, ước mơ của họ là làm sao được cung thỉnh Chư tăng về Trụ trì để có người hướng dẫn tu học chánh pháp.

Vào tháng 9 năm 2004 Ban hộ tự, các vị Tộc trưởng và bà con dân làng trên dưới đều thuận lòng hiến cúng ngôi chùa cho Giáo hội và cung thỉnh Hòa thượng Thích Quán Chơn làm Trú trì với nguyện vọng duy trì phát triển và tạo nơi an tâm tu học cho bà con dân làng. Mặc dầu đang bộn bề nhiều Phật sự, nhưng vì sự khẩn cầu của bà con dân làng, Hòa thượng đã hứa khả đứng ra đảm nhận Trú trì để chăm lo Phật sự.

Chùa Sơn Bằng chính thức được BTS GHPG Thừa Thiên Huế tiếp nhận vào phiên họp ngày 4 tháng 7 năm 2007; đến ngày 1 tháng 5 năm 2007 lễ bổ nhiệm Trú trì với quyết định số 65/QĐ/BTS diễn ra trang nghiêm và trọng thể. Từ ngày có Chư tăng về ở, ngôi chùa trở nên ấm cúng, bổn đạo thập phương lui tới ngày một thêm nhiều, các hạng mục công trình được sửa sang chỉnh đốn ngày một khang trang đẹp đẻ.

Hiện tại, Đại đức Thích Trung Tạng là đệ tử của Hoà thượng Thích Quán Chơn đang tu học và chăm lo phụng sự Tam bảo tại đây. Ngôi chùa giờ đã trở nên gần gũi thân thương với bà con dân làng, tiếng mõ lời kinh lại vang lên đều đặn mỗi ngày, niềm phấn khởi hiện lên trên từng khuôn mặt của những người Phật tử. Giờ họ đã có chỗ trở về nương tựa thực sự; mỗi chiều sau những giờ làm việc mệt nhọc họ lại ghé qua chùa thăm Thầy, cùng ngồi uống chén trà nống đàm đạo trong cảnh thiền môn thanh tịnh mới thấy cuộc đời trở nên tươi vui ý nghĩa. Đây cũng là niềm tự hào của bà con dân làng, để rồi ai đó xa quê cũng phải thấy chạnh lòng vì:“Chuông vãng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông”

Sunday, May 3, 2015

Chùa Thiền Tôn - nơi phát xuất phái Thiền Liễu Quán

Du Lịch Huế - Chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm bên sườn núi Thiên Thai nên còn có tên là Thiên Thai Thiền Tôn Tự hay Thiên Thai Thiền Tông Tự. Có sách ghi chùa Thuyền Tôn.

Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp.

Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn.

Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.

Pháp kệ Liễu Quán :

Thiệt tế đại đạo
Tánh hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận
Đức bổn từ phong
Giới định phước huệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Mật khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chánh tông
Hạnh giải tương ưng
Đạt ngộ chơn không.



Toàn cảnh chùa

Tỳ kheo Thích Viên Giác trong bài viết :"Ý nghĩa pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán" cho biết : "Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử. Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo. (...)

Pháp kệ truyền thừa của Tổ Liễu Quán có một ý nghĩa đặc biệt, đó là định hướng đường lối tu học cho các thế hệ đương thời. (...)

Toàn kệ có thể chia ra làm sáu phần hoặc lộ trình tu hành gồm sáu bước : 1. Thể tính vắng lặng; 2. Tâm thức thánh thiện; 3. Công phu hoàn chỉnh; 4. Trí tuệ vẹn toàn; 5. Hóa độ nhân gian; 6. Thành tựu thánh quả."

Chùa được trùng tu năm 1746 do ngài trụ trì Tế Hiệp - Hải Điện khởi công. Chưởng Thái giám Đoán Tài Hầu pháp danh Tế Ý đứng ra vận động xây dựng ngôi chùa khang trang, cho đúc đại hồng chung nay vẫn còn. Năm 1751, chùa được cấp tự điền ; năm 1772, chùa được duyệt cấp bằng khoán tự điền.

Các vị trụ trì kế tiếp là Tế Mẫn - Tổ Huấn, Đại Tuệ - Chiếu Nhiên đều có trùng tu ngôi tổ đình. Chùa tiếp tục được trùng tu vào năm 1793 do bà Đốc Hữu phát nguyện và năm 1799 do Hoàng đệ Thái Tể (thuộc triều Tây Sơn) phát nguyện trùng tu tự viện trang nghiêm.

Năm 1803, ngài Đạo Tâm - Trung Hậu trụ trì đã tổ chức trùng kiến. Bà Lê Thị Tạ pháp danh Tiên Quý đã có công quả lớn trong lần trùng tu này. Chùa được làm sườn gỗ lợp ngói, sinh hoạt Phật sự được phục hưng và phát triển.

Chùa được trùng tu thành tòa phạm vũ nguy nga vào các năm 1807-1809 do hai vị công chúa trong triều phát tâm cúng dường và tứ chúng đồng tâm hỗ trợ; trùng tu năm 1886 do Đại sư Hải Nhuận - Phước Thiêm tổ chức và năm 1899 do Đại sư Tâm Thiền tổ chức.

Năm 1940, chùa bị hư hỏng nặng, Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên, vị trụ trì đời thứ 10 đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Từ năm 1973 đến khi viên tịch (02-02-1979), Hòa thượng đảm nhận chức vụ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài kế thừa đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế, đời thứ 8 pháp phái Liễu Quán.

Sau 60 năm chưa được sửa chữa, chùa bị hư dột nhiều nơi, nên vào ngày 23-02-2000, Hòa thượng trụ trì đời thứ 11 Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã cho khởi công đại trùng tu ngôi chùa với kinh phí khoảng 2 tỷ đồng, được khánh thành vào ngày 09-3-2001 (15-2 năm Tân Tỵ). Hòa thượng viên tịch tại chùa Từ Đàm ngày 03-10-2001 (17-8 năm Tân Tỵ), trụ thế 81 tuổi đời, 53 tuổi đạo.

Văn bia ở chùa có ghi :"Gốc sâu thì nhánh tốt, nguồn xa thì dòng dài; chốn phạm vũ này tuy ba lần tụ ba lần tán mà đạo vẫn không hề tăng giảm."

Chùa đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục năm 2008 :"Chùa Thiền Tôn, nơi phát xuất phái thiền Liễu Quán ở Việt Nam."

Tổ đình Thiền Tôn là ngôi thiền tự lớn ở Huế xưa nay.



Trụ biểu



Mặt tiền chùa



Điện Phật



Điện Phật



Điện Quan Âm



Điện Địa Tạng



Tượng Minh Vương



Tượng Minh Vương



Chân dung Thiền sư Liễu Quán



Chân dung cố Hòa thượng Thích Giác Nhiên



Đại hồng chung cổ trong chính điện



Sân sau ngôi chính điện



Đài Quan Âm



Tháp chuông



Nhà bia



Bia ghi sự lục ngôi tổ đình



Toàn cảnh tháp Tổ Liễu Quán



Cổng tháp Tổ Liễu Quán



Tháp Tổ Liễu Quán