Thursday, April 30, 2015

Tả Vu - Hữu Vu

Du Lịch Huế - Tả Vu và Hữu Vu là hai công trình phối thuộc của Điện Cần Chánh trong Tử Cấm Thành của Kinh thành Huế.



Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc. Tả Vu và Hữu Vu đều được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Hữu Vu được trùng tu vào năm 1977, và Tả Vu vào các năm 1986, 1987-1988.



Hữu vu trong điện Cần Chánh ngày xưa

Tuesday, April 28, 2015

Huyền Không Sơn Thượng chốn thanh tao

Du Lịch Huế - Huyền Không Sơn Thượng không phải một ngôi chùa lớn hoành tráng ở Huế - đất cố đô với bao đền đài thành quách. Thế nhưng, bất cứ ai khi đặt chân lên con đường dẫn đến chùa, bước vào khuôn viên, tham quan một vòng ngôi chùa độc đáo rồi dừng chân bên thạch bàn, nhâm nhi ly trà ướp sen tại thư đình yên tĩnh, sẽ có chung cảm giác thanh thản đến lạ kỳ.



Không gian chùa Huyền Không Sơn Thượng

Không như những ngôi chùa u tịch thâm nghiêm ở miền Bắc, cũng không giống những ngôi chùa đồ sộ sặc sỡ với những gam màu vàng đỏ và kiến trúc Kh’mer độc đáo ở phía Nam… Huyền Không Sơn Thượng đặc biệt ở chỗ chùa khác biệt ngay cả với những ngôi chùa cùng toạ lạc nơi chốn cố đô di sản này.
Con đường dẫn lên chùa bắt đầu từ dưới chân núi Chằm cao hơn 300m so với mực nước biển. Hai bên con đường nhỏ ngoằn ngoèo bắt vào sườn núi là một rừng thông xanh mướt. Phía cuối của con đường thơ tịch ấy, thung lũng mở ra “Tả thanh long” là một triền đồi thoai thoải, “Hữu bạch hổ” là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối mọc um tùm. Hướng Tây Nam có một mỏm núi với một cây cổ thụ lớn mọc cheo leo trên vách đá gọi là “Độc thụ sơn”. Ở trung tâm của thung lũng, vẻ đẹp hoang sơ đến mê hồn của ngôi chùa tạo cảm giác thân thuộc mà bí ẩn, u tịch mà thanh tao. Không gian thiên nhiên được bàn tay con người chăm chút đã khiến hoang sơ trở nên gần gũi. Từ cổng chùa đến các khuôn viên, nhiều loài hoa và thảo mộc quý được các nhà sư đưa về trồng tỏa hương phảng phất. Những hồ nước xanh ngắt với giả sơn quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy hoa súng, hoa sen dẫn đưa du khách bước vào Thanh Tâm viên, khu sân vườn trước toà Phật Điện.

Và điều đặc biệt làm nên nét riêng thanh tao mà cao quý của chốn tịnh tâm này không phải là những con đường, những khu rừng hay những giò hoa. Không gian tao nhã của Huyền Không Sơn Thượng được khắc họa trong những vần thơ, câu phú với những triết lý sâu xa của đạo Phật, đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, những cảm xúc bất chợt của các thi nhân đã từng đến nơi đây và để lại dấu bút của mình trên đá, trên những thân cây, trên những thạch bàn… Những bài thơ, những điều răn dạy của đạo Phật cứ hoà lẫn với thiên nhiên trong một không gian yên tĩnh, trầm mặc và quyến rũ. Chính những điều này đã tạo nên một Huyền Không Sơn Thượng u tịch mà thanh tao, nhẹ nhàng mà lại vô cùng sâu lắng, khiến cho bất cứ ai tới nơi đây cũng phải lắng mình để rồi suy ngẫm, nhìn nhận lại chính bản thân.
Đến với Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, du khách sẽ được trải lòng mình ra với thiên nhiên, để một phút sống thật với chính mình, để có dịp quên đi những bộn bề lo toan trong thời buổi “cơm áo gạo tiền”, để lắng mình trong những cảm xúc không dễ gì bắt gặp nơi ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành.

* Du khách đến Huế có thể thuê xe máy rồi theo con đường ven sông Hương ngược về thượng nguồn, qua chùa Thiên Mụ chừng 7km là đến Huyền Không Sơn Thượng, thôn Nham Biền, Hương Trà, ngoại vi thành phố Huế. Đây là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông, hậu thân của chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc xưa.

Theo Vũ Thanh

Ngắm Kinh thành Huế cổ được UNESCO vinh danh

Du Lịch Huế - Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Đây là nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn từ năm 1805 đến năm 1945.

Thành có diện tích hơn 500 ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. 4 hướng đông, tây, nam bắc của thành lần lượt giáp các giáp các đường Trần Hưng Đạo, Lê Duẩn, Tăng Bạt Hổ và Phan Đăng Lưu.





Các di tích trong Kinh thành gồm Kỳ Đài, Trường Quốc Tử Giám, điện Long An, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm, Viện Cơ Mật - Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu vị thần công.

Hiện, Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới và cũng là di tích nổi bật nhất.

Nghề hái lá ở Dạ Lê

Du Lịch Huế - Đầu buổi sáng những ngày nắng ráo, trên Quốc lộ 1A nhộn nhịp người xe qua lại thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ nhọc nhằn xe đạp chở theo nào chổi rành, chổi đót và nhiều loại lá đã được phơi khô đi về thành phố. Lặng lẽ một nét văn hoá quá đỗi thân thuộc của người làng Dạ Lê (Thuỷ Phương-Hương Thuỷ).



Bà Chanh ngồi bó lá bướm bạc

Vùng gò đồi của Hương Thuỷ có nhiều loại lá bốn mùa xanh tươi có thể thu hái, phơi khô để nấu nước uống tốt cho sức khoẻ đã được nhiều thế hệ biết đến, tin dùng. Với kinh nghiệm “xưa bày nay làm”, các loại lá ấy đã được người làng hái về, sơ chế để thành một loại nước thơm ngon, giải nhiệt cho người bình thường và dùng cho phụ nữ trong thời ở cữ. Không riêng người dân Thuỷ Phương biết lên đồi hái lá uống bởi hầu hết người dân ở các vùng gò đồi đều rất quen với công việc này. Tuy nhiên, nói đến chuyện hái lá để bán, phục vụ người có nhu cầu xa gần thì đích thị chỉ có người Dạ Lê của Thuỷ Phương.
Dân gian đã quen “Dạ Lê than, củi, chủi, lá...” là để nói đến những công việc mà người dân của Thuỷ Phương, trong đó chiếm phần nhiều là người làng Dạ Lê, lên đồi, lên rừng kiếm củi, kiếm than, kiếm chổi, lá... để thêm thu nhập trong ngày nông nhàn. Lá gì có lợi cho sức khoẻ đều được bà con tận dụng hết. Như mắm nêm, nhân trần, chó đẻ, bướm bạc, hà thủ ô, bò bò, choài choại, ngấy… Những loại cây này phát triển tự nhiên như lộc trời cho người làng. Theo anh Trương Công Nghĩa, Chủ tịch UBND phường Thuỷ Phương, chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng số người làng làm nghề hái lá cũng tương đối nhiều, góp phần tạo thu nhập đáng kể cho bà con.

Những năm trở lại đây, càng ngày càng có nhiều người chuộng nước lá tự nhiên nên nghề hái là của người làng cũng cứ thế đều đều tiến. Thời gian đầu là đồi gần, sau rồi đồi xa. Nay, để một ngày có được một gánh “hòm hòm” đem về cũng đã vất vả lắm. Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoa để nghe chuyện hái lá của người làng. Ông Hoa đi kiếm lá từ sáng sớm, nhà chỉ còn người vợ là Nguyễn Thị Chanh đang bận rộn với công việc bó lá.

Bà Chanh làm quen với nghề hái lá từ ngày theo chồng. Bố mẹ chồng bà đã làm nghề này từ lâu “Làm cũng đều nhưng không năng vì còn làm ruộng. Sau ni già rồi, ruộng cũng ít lại thì mới làm nhiều. Tính ra, một ngày cũng được khoảng 200 ngàn tiền lá. Nhưng trừ tiền xăng xe đi lại, ăn uống, thời gian phơi, ra bó, mua lạt buộc... còn lại không mấy. Đủ 2 vợ chồng nuôi nhau”, bà Chanh nói. Ngày trước còn khoẻ, vợ chồng bà Chanh thường đi hái lá theo chuyến, mỗi chuyến 15-20 ngày, đầy một xe Huyn-dai là về. Vì “làm ăn lớn” như thế nên có khi ăn dầm ở dề trên vùng núi của Hương Trà, Phong Điền “no lá” mới về. Gặp vùng nhiều lá, còn kết hội 5-7 người trong xóm đi cùng.

Theo bà Chanh, nghề theo lá không sợ nhọc nhằn, chỉ ngại mỗi việc phải nghỉ đông. Trong năm, thuận tiện cho làm nghề nhất là từ giêng hai đến độ tháng 7. Qua tháng 8, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu chớm đến, người làng đã bắt đầu lo lắng chuyện chợ không thông, lá lâu khô, rồi lại ảnh hưởng đến thu nhập. Vào mùa cao điểm, nhà một người hái lá, một người phơi, bó thì không kịp cho bạn hàng lấy. Bạn hàng gom hàng rồi tủa đi khắp nơi. Ai có điều kiện thì ngồi chợ, không thì bán dạo quanh phố.

Chúng tôi rời nhà bà Chanh khi nắng đầu ngày đã qua khỏi ngọn tre đầu ngõ. Như để trấn an khách lạ, bà nhắn thêm: “Mình nhờ lá mà làm được nghề nên không tham được mô. Vì tham mà độn lá lung tung là không bền, hại người rồi còn hại cả mình nữa”. Hy vọng, nghề hái lá của người làng Dạ Lê bền mãi như một nét đẹp văn hoá của vùng quê nông thôn này.

Theo Đồng Văn

Monday, April 27, 2015

Những phát hiện khảo cổ 2012: Đài thiên văn cổ

Du Lịch Huế - Quan Tượng đài có tông màu xám của gạch Bát Tràng nung già, sắc vàng sắc xanh của ngói lưu ly. Đó là một phần kết quả khai quật khảo cổ tháng 5.2012 của Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế.

“Có thể khẳng định đến thời điểm này, Quan Tượng đài là đài thiên văn cổ duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam”, ông Trịnh Nam Hải - người phụ trách khai quật khảo cổ tại di tích này, cho biết. Do đó, ngoài ý nghĩa giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học…, Quan Tượng đài còn có giá trị về mặt kiến trúc trong tổng thể kinh thành Huế. Đúng như tên gọi, Quan Tượng đài có nghĩa là đài cao dùng để quan sát, theo dõi diễn biến thời tiết, khí hậu, các hiện tượng thiên nhiên khác hay còn gọi là đài thiên văn của triều Nguyễn.

Sử chép, triều Nguyễn cho xây dựng Quan Tượng đài để cơ quan chuyên theo dõi thiên văn, dự báo thời tiết, làm lịch, xem ngày lành tháng tốt là Khâm Thiên giám sử dụng. Những thông tin từ Quan Tượng đài này được chuyển về Khâm Thiên giám xử lý kết quả dự báo thời tiết, làm lịch… Điều này chứng minh sự quan tâm của triều đình nhà Nguyễn đối với đời sống xã hội, cuộc sống nhân dân lúc bấy giờ. Đến đầu thế kỷ 20, nhiệm vụ Quan Tượng đài không còn được phát huy nữa, nhưng bản thân di tích này vẫn mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa.


Quan Tượng đài, ảnh chụp năm 1949 - Ảnh: Do nhóm nghiên cứu cung cấp

Ý nghĩa là vậy, song Quan Tượng đài qua tư liệu ảnh chỉ còn mang hai sắc đen trắng. Nguồn tư liệu chính sử ghi chép về lịch sử xây dựng các hạng mục kiến trúc di tích, những lần tu bổ cũng rất chung chung. Trong khi tư liệu thiếu thì sự tàn phá của chiến tranh, khí hậu thiên tai, của con người đã biến di tích thành phế tích hoang tàn. Theo báo cáo khai quật, toàn bộ các hạng mục kiến trúc trên mặt đất gần như bị hủy hoại toàn bộ, phần dưới mặt đất cũng bị xáo trộn.

Nền cũ Bát Tràng

Theo các nhà khoa học, nền gốc của di tích đã bị xáo trộn sau thời gian dài phục vụ cho các mục đích khác nhau. Vì thế, đảm bảo việc giữ lại những mảng gạch Bát Tràng (nền gốc của di tích) họ phải bóc tách toàn bộ nền đền đài xuống khoảng 20 - 30 cm. Một số mảng bị dập vỡ do đạn pháo năm 1968. Điều dễ nhận thấy nhất là nền đài được gia cố khá chắc chắn bằng nhiều lớp đất dầm chặt. Tuy nhiên, khi lát gạch Bát Tràng, người ta vẫn lót thêm phía dưới một lớp vữa dày. Gạch Bát Tràng ở đây có màu xám đen, độ nung cao. “Đây có lẽ chính là nguyên nhân khiến nền gạch nung gần như sành này bị tháo dỡ. Theo người dân quanh di tích, những năm 80 thế kỷ trước, một số người đã gỡ loại gạch này về nấu thủy tinh thủ công”, ông Trịnh Nam Hải - người phụ trách khai quật, phỏng đoán.

Đình Bát Phong - nơi làm việc của nhân viên quan sát thiên văn có cấu trúc hình bát giác. Về cơ bản, móng của công trình này còn nguyên vẹn. Sự khác biệt rõ nét nhất của hệ thống các chân đá tảng ở đây so với các di tích khác ở Huế là ngoài việc khoét lỗ chân cột, người ta còn xẻ rãnh. Những rãnh này được phỏng đoán có tác dụng giúp bảo vệ hệ thống khung gỗ và mái ngói trước thời tiết khắc nghiệt.

Kết quả khai quật cho thấy hệ thống lỗ thoát nước dưới hệ thống lan can, xung quanh ba mặt tường của đài. Tuy nhiên, do cao hơn nền sân từ 12 - 14 cm, nếu có mưa lớn hệ thống thoát nước mặt này sẽ không giúp thoát nước nền đài. “Vấn đề đặt ra là nước trên nền đài sẽ thoát đi đâu khi có mưa lớn? Quan sát cho thấy nền đài xuôi dần về hướng đông bắc - hướng đường dẫn lên xuống. Vì thế, khi mưa lớn, nước mưa sẽ chảy theo hướng này”, ông Hải cho biết.

Toàn bộ hệ thống lan can (tường bao quanh nền đài), cũng như lan can bậc cấp, đường dẫn lên xuống đài bị tháo dỡ toàn bộ. Tư liệu ảnh cho thấy hệ thống lan can xây kín khá đơn giản.

Món quà may mắn với các nhà khảo cổ là đường dẫn tới di tích đã xuất lộ trong điều kiện tốt nhất có thể. Toàn bộ hệ thống được sử dụng đá gan gà và được xếp ngay ngắn, hoàn toàn không dùng vữa liên kết. Một điều khá lý thú trên rất nhiều viên đá bậc cấp có ghi những ký tự Hán Nôm. Tổng số bậc cấp đếm được là 51, mỗi bậc cấp rộng 75 - 80 cm, cách nhau 10 cm.

Kiến nghị phục hồi

Theo các nhà khảo cổ, sau khi Khâm Thiên giám chuyển chỗ năm 1918, Quan Tượng đài chỉ còn là nhân chứng lịch sử. Tư liệu lịch sử cho biết khoảng giữa năm 1914, Quan Tượng đài và đình Bát Phong vẫn còn nguyên vẹn. Những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Pháp L.Cadière vẫn miêu tả rõ công trình kiến trúc này hoàn chỉnh và ở mặt trước của đài còn gắn tấm biển đúc vôi vữa đề tên. Năm 1949, ảnh tư liệu hiện lưu giữ tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế cho thấy kiến trúc Quan Tượng đài vẫn còn khá tốt. Tuy nhiên, hiện trạng trước khai quật năm 2012 của di tích này rất đáng lo ngại.

Hệ thống bậc cấp bị cỏ dại và đất đá bao phủ, có chỗ dày tới 60 - 70 cm. Thông tin cho biết thậm chí bậc cấp còn được dùng làm điểm đỗ xe trong một thời gian dài. Vô số các phế thải, nhất là kim tiêm của các đối tượng nghiện cũng xuất hiện tại đây. Lan can bậc cấp bị tháo dỡ, chỉ còn lại duy nhất đoạn ngắn dài 4,83 m. Hai bên lề của bậc cấp nhiều đoạn bị đạn pháo làm hư hỏng nặng.

Chính vì thế, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế kiến nghị có kế hoạch bảo tồn kết quả khai quật, đồng thời triển khai ngay việc lập dự án phục hồi tu bổ Quan Tượng đài.

Các nhà khoa học cũng kiến nghị tôn trọng việc phục hồi nguyên gốc các hạng mục kiến trúc như đình Bát Phong, nền gạch Bát Tràng, hệ thống bậc cấp tường lan can, màu sắc… Đồng thời, đơn vị khai quật cũng đề nghị có kế hoạch giải tỏa ngay 2 hộ gia đình lấn chiếm di tích để đảm bảo cho việc phục hồi di tích thuận tiện. Mới đây, đầu tháng 11, việc trùng tu đã bắt đầu được thực hiện dựa trên những phát hiện khảo cổ này.

Theo Trinh Nguyễn

Những ngôi giáo đường đẹp ở Huế - P1

Du Lịch Huế - Là một tôn giáo có số giáo dân đông vào hàng thứ 2 (sau Phật giáo) ở Thừa Thiên Huế, Thiên chúa Giáo có lịch sử du nhập và phát triển ở Ðàng Trong khá sớm. Từ thế kỷ XVII các chúa Nguyễn ở Đàng Trong cho phép các tàu buôn của Pháp, Hà Lan, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha... vào làm ăn và cùng đi là có các giáo sĩ truyền đạo. Hiện nay, ở Thừa Thiên Huế có 45 giáo xứ với hơn 90 nhà thờ lớn nhỏ khác nhau.
Gần trung tâm Huế có 2 ngôi giáo đường lớn được xây dựng vào những năm đầu thập niên 60 là nhà thờ Phủ Cam (Phường Phước Vĩnh) và nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp (đường Nguyễn Huệ - Phường Phú Nhuận). Ðó là 2 giáo đường tiêu biểu cho lối kiến trúc roman - gothique của Thiên chúa giáo Huế.



Nhà thờ Phủ Cam
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam


Chính diện nhà thờ Phủ Cam
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc trên đồi Phước Quả, thuộc địa phận phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Nơi đây năm 1682, linh mục Langlois cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre tại xóm Đá, sát bờ sông An Cựu. Sau đó hai năm, linh mục đã cho triệt giải nhà nguyện và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng một nhà thờ to lớn hơn và kiên cố bằng đá, quay mặt về hướng Tây. Nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1698, ngôi nhà thờ ấy bị triệt giải hoàn toàn. Hai thế kỷ sau, vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys đã cho xây mới Nhà thờ Phủ Cam bằng gạch, mái lợp ngói khá đồ sộ ở vị trí cũ nhưng mặt quay về hướng Bắc, hoàn thành vào năm 1902.

Nhà thờ Phủ Cam xưa

Toàn cảnh nhìn từ xa của nhà thờ Phủ Cam hiện nay
Đến năm 1960, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận, Tổng giám mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục đã cho phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất Nhà thờ chính tòa mới được xây theo lối kiến trúc hiện đại, người thiết kế là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người đã đoạt giải kiến trúc Khôi nguyên La Mã, tác giả của nhiều công trình kiến trúc đẹp mà nổi tiếng như Viện nguyên tử Đà Lạt, Viện Đại Học Huế, dinh Độc Lập Sài Gòn ... Công trình đang thi công thì họ Ngô sụp đổ, và bắt đầu từ đó việc xây dựng cũng bị ngắt đoạn. Sau 36 năm tháp chuông nhà thờ xây dang dở, đến ngày 1 tháng 5 năm 1999, hai tháp chuông, mỗi tháp bảy tầng cao 43,5 mét được xây dựng trở lại. Ngày 29 tháng 6 năm 2000 kiến trúc nhà thờ Phủ Cam hoàn chỉnh được khánh thành, xứng đáng là nhà thờ chánh toà, một ngôi thánh đường rộng lớn ở Việt Nam.





Nhìn tổng thể, Nhà thờ Phủ Cam hài hoà với cảnh quan xung quanh ở lưng chừng đồi, có khuôn viên rộng với sân nhà thờ nổi bật tượng chúa Jesus nhân hoà. Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá, đầu hướng về phía Nam đuôi hướng Bắc. Đỉnh nhà thờ Phủ Cam vươn thẳng lên trời nhưng trông vẫn thanh thoát nhẹ nhàng, vừa mang tính nghệ thuật và tôn giáo.

Đỉnh nhà thờ vươn cao vút lên trời
Phía trước nhà thờ Chính toà Phủ Cam có hai tượng đúc: bên phải là thánh Phêrô, bên trái thánh Phaolô cũng là những bổn mạng của giáo xứ Phủ Cam do nghệ nhân Đinh Văn Lương ở Sài Gòn thực hiện.


Đặc biệt mặt tiền nhà thờ có một hệ thống cửa chính và phụ được thiết kế theo kiểu kiến trúc “Ngọ Môn” ở Hoàng thành Huế với 5 cửa: 3 cửa thẳng - 2 cửa quanh, hai bên có 10 cửa phụ cho người ra vào.
Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên bên trong lòng nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất.



Trong thánh đường, khung trần có hình vòm cung cao 21,5 mét với các trụ đỡ sát tường chạy cong dần lên một cách mềm mại như bàn tay chắp lại của con chiên những lúc nguyện cầu. Có thể hình dung như một lòng tàu Noah mới mà thánh đường như lòng tàu mở ra, sẵn sàng chuyên chở con chiên, giúp họ vượt qua cuộc đời bằng phép rửa tội, với trái tim mến mộ Đức Chúa của mình.



Ở nơi trang trọng của thánh đường có bàn thờ bằng đá cẩm thạch đặt trên một viên đàn có 3 cấp tượng trưng cho tam tài thiên địa nhân. Từ nơi đó, đức Cha hướng về người hành lễ để giảng thánh kinh Thiên Chúa. Phía trang nghiêm trên cao là cây thông làm thập giá có tượng Chúa Cứu thế đóng đinh, bên trên là bức hoạ Đức Chúa Jesus dang tay ra trong buổi tiệc ly với dòng chữ "Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời".



Nhà thờ Phủ Cam là nơi cử hành những thánh lễ quan trọng nhất của tổng giáo phận Huế nên được gọi là nhà thờ chánh toà.

Nguyễn Văn Liêm

Huế: Làng hoa Phú Mậu lung linh sắc màu chờ đón Xuân về

Du Lịch Huế - Nửa chừng tháng chạp, không khí buâng khuâng của mùa xuân tràn về khắp nơi nơi, sắc hoa cũng thi nhau khoe dáng, nở rộ tại các làng hoa và những điểm tập kết hoa trong cả tỉnh, làm xứ mộng mơ thêm phần rực rỡ.

Muôn màu hoa tết

Tại làng hoa Phú Mậu – vựa hoa chính cung cấp hoa cho thị trường tết ở Huế hằng năm có muôn vàn loại hoa nào là cúc, ly, mào gà, vạn thọ, ... được trồng với số lượng lớn không chỉ đáp ứng thị trường trong huyện mà cho cả thành phố Huế.

Năm nay, ở làng hoa Phú Mậu thêm các giống hoa mới như: tulip, thược dược, hoa chuông làm phong phú thêm thị trường hoa tết. Đến thời điểm này, các giống hoa mới đang trong thời kỳ ra nụ và có những hoa đã hé nụ chào xuân.

Ông Lự người đưa giống mới vào vườn hoa của mình, chia sẻ “đến thời điểm này tôi cũng như bà con làng hoa Phú Mậu đã thành công bước đầu là hoa đã ra nụ và nở mà không bị sâu bệnh gì nhiều, giờ chúng tôi chỉ mong được giá.”

Tại điểm tập kết hoa trên đường Lý Thường Kiệt cũng có muôn hoa đua nở nào là màu cúc vàng thịnh vượng, màu lan Hồ Điệp tím ngát, lan Catte trắng ngần hay lan Nghinh Xuân rực lửa...

Không thua kém sắc màu hoa, bonsai được chưng diện ở đây cũng đa dạng vô vàn thi nhau khoe dáng với các thế khác nhau như: thế tam đa, thế trung bình cong hay phong cách nghiêng,.... Mỗi thế đứng của cây đều thể hiện ý đồ của “tác giả” mà khiến không ít người xem phải trầm trồ thán phục, khen ngợi.

Các loại cây kiểng được ưa chuộng ở Huế như: Linh Sam, Mai, Lộc Vừng, Tùng, Bạch Tuyết Mai...

Giá cả phải chăng

“Năm nay giá các loại hoa như cúc, lan...dùng để chưng ngày tết giá sẽ không cao, hợp lý, vừa túi người tiêu dùng” đó là nhận định của anh Hoàng Nhật Trường chủ vườn hoa, kiểng. Theo anh thì thời tiết năm nay khá thuận lợi nên các loại hoa ít mắc phải các sâu bệnh nên giá hoa tết tương đối ổn định, mặc dù thời điểm hiện tại nguồn hoa ở Huế chưa đưa ra thị trường.

Ông Lự cũng chia sẻ “giá hoa năm nay không cao, chỉ chênh lệch với năm ngoái dăm ba ngàn thôi, người dân ở làng hoa này cũng mong bán được giá lắm”.

Anh Trường còn nhận định thêm “thị trường hoa Huế thì giá hoa Mai sẽ tương đôi cao hơn so với các loại khác. Bởi thời tiết ở Huế năm nay khá ấm, nên hầu hết hoa Mai đều nở sớm”.

Một số hình ảnh ghi nhận tại làng hoa Phú Mậu:





Những khóm cúc tím ngát lung linh với cơn mưa xuân ở Huế

Bạt ngàn cánh đồng cúc vàng






Chòm hoa thược dược nở rộ khoe sắc thắm








Hoa mào gà




Hoa tulip giống hoa mới được trồng thử nghiệm và thành công ở làng hoa Phú Mậu.







Hoa chuông sắc hồng dưới nắng xuân